Thông tư 06-PH-TT được ban hành năm 1956 bởi Ngân hàng Quốc gia Việt Nam, quy định chi tiết về việc quản lý, mua bán và lưu thông vàng bạc tại các thành phố lớn. Đây là một văn bản pháp lý quan trọng trong thời kỳ đầu khôi phục kinh tế, nhằm thiết lập trật tự thị trường tiền tệ, kiểm soát ngoại hối và bảo vệ giá trị đồng tiền quốc gia.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Thông tư áp dụng đối với toàn bộ các hoạt động giao dịch, mua bán, ký gửi, chế tác vàng, bạc và các loại kim loại quý khác tại địa bàn các thành phố thuộc miền Bắc Việt Nam. Đối tượng chịu sự điều chỉnh trực tiếp bao gồm các cửa hàng kinh doanh vàng bạc, thợ kim hoàn tư nhân, các tổ chức kinh tế và mọi công dân có hoạt động liên quan đến giao dịch kim loại quý.
Nội dung cốt lõi của Thông tư (Điều 1 đến Điều 4)
1. Nguyên tắc thống nhất quản lý thị trường vàng bạc của Nhà nước (Điều 1)
- Khẳng định vai trò độc quyền và điều tiết tối cao của Ngân hàng Quốc gia Việt Nam trong việc quản lý thị trường vàng bạc.
- Mọi giao dịch mua bán vàng bạc mang tính chất thương mại hoặc quy mô lớn đều phải thông qua hệ thống Ngân hàng Quốc gia hoặc các đại lý được ủy quyền chính thức.
- Nghiêm cấm các tổ chức, cá nhân tự ý thiết lập các chợ đen hoặc địa điểm giao dịch vàng bạc tự phát ngoài sự kiểm soát của cơ quan quản lý nhà nước.
2. Quy định về giá cả và phương thức giao dịch (Điều 2)
- Giá mua và giá bán vàng, bạc tại các thành phố phải được thực hiện theo đúng khung giá do Ngân hàng Quốc gia ấn định và công bố công khai trong từng thời kỳ.
- Các cơ sở kinh doanh được cấp phép phải niêm yết giá rõ ràng, không được tự ý nâng giá, ép giá hoặc áp dụng các phương thức thanh toán trái quy định pháp luật.
- Việc thanh toán trong các giao dịch mua bán vàng bạc phải tuân thủ các hướng dẫn về quản lý ngoại hối, ưu tiên sử dụng tiền tệ quốc gia để thực hiện giao dịch.
3. Quản lý hoạt động của thợ kim hoàn và hộ kinh doanh tư nhân (Điều 3)
- Yêu cầu tất cả các hộ thợ kim hoàn, nghệ nhân chế tác và các cửa hàng vàng bạc tư nhân tại các thành phố phải thực hiện đăng ký kinh doanh và khai báo nguồn gốc nguyên liệu rõ ràng.
- Các cơ sở này phải mở sổ sách kế toán ghi chép đầy đủ số lượng vàng bạc nhập vào, xuất ra, lượng hao hụt trong quá trình chế tác và danh sách khách hàng đối với các giao dịch lớn.
- Chịu sự kiểm tra, giám sát định kỳ hoặc đột xuất của cán bộ Ngân hàng Quốc gia và các cơ quan chức năng có thẩm quyền về việc chấp hành chính sách quản lý kim loại quý.
4. Chế tài xử lý vi phạm và biện pháp ngăn chặn đầu cơ (Điều 4)
- Quy định rõ các hành vi bị coi là vi phạm pháp luật bao gồm: mua bán vàng bạc không có giấy phép, đầu cơ tích trữ gây lũng đoạn thị trường, buôn lậu vàng bạc giữa các địa phương hoặc qua biên giới.
- Các hình thức xử lý vi phạm bao gồm tịch thu tang vật, phạt tiền, thu hồi giấy phép kinh doanh và truy cứu trách nhiệm hình sự tùy theo mức độ nghiêm trọng của hành vi vi phạm.
- Các cơ quan chính quyền địa phương và lực lượng công an tại các thành phố có trách nhiệm phối hợp chặt chẽ với Ngân hàng Quốc gia để phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời các hành vi vi phạm.
Hiệu lực thi hành
Thông tư 06-PH-TT năm 1956 có hiệu lực thi hành kể từ ngày ban hành. Các quy định trước đây trái với Thông tư này đều bãi bỏ. Ngân hàng Quốc gia Việt Nam và Ủy ban Hành chính các thành phố chịu trách nhiệm đôn đốc, hướng dẫn và kiểm tra việc thực hiện nghiêm túc các điều khoản quy định tại Thông tư này.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| NGÂN HÀNG QUỐC GIA | VIỆT |
| Số: 06-PH-TT | Hà Nội, ngày 29 tháng 11 năm 1956 |
THÔNG TƯ
VỀ VIỆC MUA BÁN VÀNG BẠC Ở CÁC THÀNH PHỐ
Tiếp theo Thông tư thi hành bước đầu Nghị định quản lý vàng bạc số 631-TTg ngày 13-12-1955 của Thủ tướng Chính phủ, nay Ngân hàng Quốc gia Việt Nam quy định việc mua bán vàng bạc (điều 2 Nghị đinh ở các thành phố Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, thị xã Thanh Hóa, Hà Đông, Vinh (Nghệ An) Đồng Hới (Quảng Bình) như sau:
a) Đối với nhân dân mua bán vàng bạc: ai muốn mua bán vàng bạc, bất cứ số lượng nhiều hay ít, vàng bạc nguyên hay đồ tư trang đều phải xin giấy phép của Ngân hàng Quốc gia Việt
- Đối với người mua, sau khi Ngân hàng Quốc gia Việt Nam xét yêu cầu và đồng ý cho mua bao nhiêu thì cấp giấy phép giới thiệu người mua trực tiếp đến cửa hiệu mà Ngân hàng Quốc gia Việt Nam đã cho phép bán vàng bạc. Người mua không được cầm giấy phép đi mua tự do ngoài thị trường.
- Đối với người bán, sau khi Ngân hàng Quốc gia Việt Nam biết rõ việc bán vàng bạc là chính đáng, thì Ngân hàng Quốc gia Việt Nam cấp giấy phép giới thiệu đem bán vàng bạc cho cửa hiệu mà Ngân hàng Quốc gia Việt Nam cho phép mua vàng bạc, người bán vàng bạc không được bán tự do ngoài thị trường.
b) Đối với cơ quan, xí nghiệp, Nhà nước, cần mua vàng bạc để dùng vào khoa học, y học, huân chương, kỷ niệm v.v… thì phải có dự trù và được cấp trên cơ quan ấy duyệt và Ngân hàng Quốc gia Việt Nam sẽ xét cung cấp. Những cơ quan, xí nghiệp có vàng bạc bán thì nhất thiết phải bán cho Ngân hàng Quốc gia Việt
c) Đối với cửa hiệu mua bán vàng bạc hiện đang kinh doanh thì chỉ được mua bán vàng bạc, đồ tư trang đối với những người có giấy phép của Ngân hàng Quốc gia Việt
Những cửa hiệu nhận làm công, chế biến vàng bạc phải giữ sổ sách, mỗi khi nhận làm và giao hàng phải có hóa đơn đầy đủ và từng hạn kỳ đã quy định phải trình sổ sách cho Ngân hàng hay cơ quan ủy nhiệm kiểm soát.
Thông tư này quy định biện pháp cụ thể thi hành điều 2 Nghị định Thủ tướng Chính phủ ở các thành phố nói trên. Ai làm trái sẽ tùy theo lỗi nặng nhẹ, bị xử phạt theo một hay nhiều hình thức quy định ở điều 8 Nghị định.
Những người tố cáo và giúp đỡ cơ quan có trách nhiệm bắt được những vụ phạm pháp sẽ được thưởng theo điều 9 Nghị định. Các chỉ thị thi hành trong bước đầu ở các thành phố Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, Thanh Hóa, Hà Đông, Vinh, Đồng Hới, trái với Thông tư này đều hủy bỏ.
| TỔNG GIÁM ĐỐC |
Thông tư 06-PH-TT năm 1956 về việc mua bán vàng bạc ở các thành phố do Ngân Hàng Quốc Gia ban hành.
- Số hiệu: 06-PH-TT
- Loại văn bản: Thông tư
- Ngày ban hành: 29/11/1956
- Nơi ban hành: Ngân hàng quốc gia
- Người ký: Lê Viết Lượng
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 7
- Ngày hiệu lực: 14/12/1956
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
