Thông tư 03-TC/HCP/P1 ban hành năm 1960 bởi Bộ Tài chính nhằm sửa đổi, bổ sung chế độ phụ cấp lưu trú đối với cán bộ, công nhân viên chức nhà nước khi đi công tác.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Văn bản quy định chi tiết về chế độ phụ cấp lưu trú áp dụng cho toàn thể cán bộ, công chức, viên chức và người lao động thuộc các cơ quan hành chính, sự nghiệp, doanh nghiệp nhà nước được cử đi công tác trong nước nhằm bảo đảm bù đắp các khoản chi phí sinh hoạt phát sinh thực tế trong quá trình di chuyển và lưu trú ngoài nơi làm việc thường trú.
Nội dung cốt lõi của các điều khoản đầu (Từ Điều 1 đến Điều 4)
Điều 1: Nguyên tắc chung về việc sửa đổi chế độ phụ cấp lưu trú
- Xác định mục tiêu của việc sửa đổi nhằm phù hợp với tình hình thực tế, bảo đảm đời sống cho cán bộ đi công tác đồng thời thực hiện chính sách tiết kiệm ngân sách nhà nước.
- Quy định rõ phụ cấp lưu trú là khoản hỗ trợ thêm ngoài tiền lương để bù đắp chi phí ăn, ở, sinh hoạt phát sinh khi đi công tác xa nơi ở thường trú.
Điều 2: Đối tượng hưởng và điều kiện áp dụng phụ cấp
- Đối tượng được hưởng bao gồm cán bộ, công nhân, viên chức thuộc các cơ quan nhà nước, đoàn thể, xí nghiệp quốc doanh được cấp có thẩm quyền quyết định cử đi công tác.
- Điều kiện áp dụng: Phải có lệnh điều động hoặc quyết định cử đi công tác bằng văn bản; thời gian đi công tác phải từ một số giờ nhất định hoặc có nghỉ qua đêm theo quy định cụ thể của từng địa bàn.
Điều 3: Mức phụ cấp lưu trú và phương thức tính toán
- Quy định chi tiết mức phụ cấp lưu trú được phân chia theo vùng, miền (vùng nông thôn, thành thị, miền núi) và tính chất của chuyến công tác.
- Phương thức tính phụ cấp dựa trên số ngày thực tế đi công tác, bao gồm cả thời gian di chuyển trên đường.
- Các trường hợp đặc biệt như đi công tác bằng phương tiện có bố trí chỗ ăn ở miễn phí hoặc đi công tác dài ngày tại một địa điểm sẽ áp dụng mức phụ cấp giảm dần theo tỷ lệ quy định.
Điều 4: Quản lý, quyết toán và trách nhiệm của thủ trưởng đơn vị
- Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị có trách nhiệm kiểm tra chặt chẽ việc cử cán bộ đi công tác, bảo đảm đúng người, đúng việc và đúng thời gian cần thiết.
- Quy trình lập dự toán, thanh quyết toán kinh phí phụ cấp lưu trú phải tuân thủ nghiêm ngặt các thủ tục chứng từ, hóa đơn (nếu có) và báo cáo tài chính định kỳ theo hướng dẫn của Bộ Tài chính.
- Nghiêm cấm các hành vi lợi dụng chế độ công tác phí để trục lợi hoặc chi sai mục đích, gây lãng phí ngân sách nhà nước.
Hiệu lực thi hành
Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ban hành, các quy định trước đây trái với Thông tư này đều bãi bỏ. Các cơ quan, đơn vị có trách nhiệm phổ biến và tổ chức thực hiện nghiêm túc các điều khoản đã được quy định.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ TÀI CHÍNH | VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA |
| Số: 03-TC/HCP/P1 | Hà Nội, ngày 11 tháng 02 năm 1960 |
Theo chế độ công tác phí hiện hành, cán bộ, công nhân, viên chức đi công tác được hưởng, trong những ngày đi đường, phụ cấp mỗi ngày 1đ20, nếu phải ăn 2 bữa cơm hàng.
Những ngày lưu trú tại nơi đến công tác, vì cán bộ đã được cơ quan có quan hệ công tác giúp đỡ ăn, ở nên không có phụ cấp.
Riêng ở thành phố Hà nội, vì điều kiện nhà ở khó khăn nên có quy định một khoản phụ cấp cho những ngày lưu trú, trong trường hợp cơ quan không đảm bảo được chỗ ăn, ở cho cán bộ đến công tác.
Thi hành chế độ ấy, một số cán bộ gặp khó khăn trong trường hợp nơi đến công tác không có cơ sở tiếp đón để giúp đỡ chỗ ăn, ở, phải ăn, ở, ngoài hàng quán, chi tiêu tốn kém hơn. Mặt khác, mức phụ cấp lưu trú tại Hà nội, trong trường hợp phải ăn, ở ngoài hàng quán, lại quy định quá cao, thiếu cân đối giữa Hà nội và các địa phương khác, nên có sự chênh lệch quá nhiều.
Để giải quyết hợp lý hơn, sau khi đã lấy ý kiến các Bộ Nội vụ, Bộ Lao động, Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam, Bộ chúng tôi quy định lại phụ cấp lưu trú như sau:
a) Nếu vì điều kiện thiếu nhà, cơ quan không thu xếp được chỗ ăn, ở, cán bộ đến công tác phải ăn, ở ngoài hàng quán có chứng nhận của cơ quan trên giấy đi đường là cán bộ không được đảm bảo chỗ ăn, ở, thì cán bộ được thanh toán phụ cấp lưu trú trong 10 ngày đầu:
- Tiền ăn: 0đ60 một ngày (tức là 0đ30 một bữa)
- Tiền trọ: tối đa không quá 0đ40 một đêm (có biên lai hoặc chứng nhận của nhà trọ).
Trong thời gian được hưởng phụ cấp lưu trú, cán bộ vẫn được hưởng khoản chênh lệch (nếu có) về phụ cấp khu vực tại Hà nội.
Từ ngày 11 trở đi, không có phụ cấp lưu trú nhưng vẫn được hưởng phụ cấp khu vực (nếu có).
Nếu cơ quan bố trí được chỗ ăn, ở, nhưng cán bộ tự ý ăn, ở ngoài hàng quán thì không được hưởng phụ cấp lưu trú.
b) Đối với những cán bộ, công nhân, nhân viên ở các địa phương về Hà nội khám hoặc chữa bệnh, nhưng vì thiếu chỗ nằm bệnh nhân phải ở ngoại trú, thì phụ cấp lưu trú sẽ giải quyết như sau:
- Trong 10 ngày đầu: giải quyết theo điểm a.
- Từ ngày thứ 11 trở đi, chỉ hưởng phụ cấp ở khu vực Hà nội (nếu có) và được thanh toán tiền trọ, nhưng phải có biên lai hoặc chứng nhận của nhà trọ và của Đồn Công an gần nơi cán bộ tạm trú (tối đa không quá 0,40 một đêm).
2. Lưu trú tại các địa phương khác:
Các cán bộ, vì công tác phải lưu trú tại các thị trấn, thị xã và các thành phố Hải-phòng, Nam định mà phải ăn, ở ngoài hàng quán vì cơ quan không đảm bảo được chỗ ăn, ở, có chứng nhận của cơ quan đến công tác hoặc của Công an địa phương (nếu là nhân viên tiếp liệu) thì được hưởng phụ cấp lưu trú trong 10 ngày đầu:
- Tiền ăn: 0đ40 một ngày (tức là 0đ20 một bữa).
- Tiền trọ: tối đa không quá 0đ30 một đêm (có biên lai của nhà trọ).
Trong thời gian được hưởng phụ cấp lưu trú, cán bộ vẫn được hưởng khoản chênh lệch nếu có (nếu có) về phụ cấp khu vực tại nơi lưu trú.
Từ ngày 11 trở đi, không có phụ cấp lưu trú nhưng vẫn được hưởng phụ cấp khu vực (nếu có).
Những ngày lưu trú ở huyện và xã, không có phụ cấp lưu trú.
3. Trường hợp đi ngang qua Hà nội hoặc các địa phương khác (tạm trú).
Trong khi đi công tác từ địa phương này sang địa phương khác, nếu cán bộ bắt buộc phải dừng lại ở một nơi trên dọc đường đi, có lý do chính đáng (như: đợi tàu, xe, bão, lụt, tai nạn, ốm đau) thì phải dựa vào cơ quan địa phương để có chỗ ăn, ở. Trường hợp phải ăn, ở ngoài hàng quán thì phụ cấp tạm trú tính như sau:
a) Nếu thời gian dừng lại không quá một ngày; được coi như vẫn trên đường công tác và hưởng phụ cấp đi đường như thường lệ.
b) Nếu thời gian dừng lại quá một ngày: ngày đầu, giải quyết như trên.
Từ ngày thứ hai, được hưởng phụ cấp như đã quy định ở phần 1 và 2 trên đây, tùy theo ở Hà nội hay ở các địa phương khác (tối đa 10 ngày).
4. Đi dự hội nghị ở Hà nội và các địa phương khác:
Cơ quan tổ chức hội nghị có trách nhiệm chuẩn bị chỗ ăn, ở cho các đại biểu, trong thời gian hội nghị. Trường hợp đặc biệt, vì thiếu chỗ ngủ, cơ quan phải thuê phòng trọ thì cơ quan dự trù và thanh toán tiền trọ (không quá 0đ30 một đêm một người tại các địa phương khác).
Như vậy, đại biểu đi dự hội nghị ở Hà nội hoặc ở các địa phương khác không có phụ cấp ăn, ở ngoài.
5. Đi công tác trong nội bộ tỉnh:
Đi công tác trong nội bộ một tỉnh, không có phụ cấp lưu trú; cán bộ nhất thiết phải ăn và ở tại cơ quan đến liên hệ công tác.
Những quy định trước đây, trái với Thông tư này đều bãi bỏ. Thông tư này thi hành kể từ ngày ban hành, nhưng không đặt vấn đề truy hoàn hoặc truy lĩnh đối với các trường hợp đã thanh toán rồi.
Để đảm bảo thi hành đúng tinh thần Thông tư, đề nghị:
a) Các cơ quan chỉ thanh toán phụ cấp lưu trú khi đương sự xuất trình đầy đủ chứng từ cần thiết, cụ thể:
- Chứng nhận của cơ quan đến công tác là cơ quan không đảm bảo được chỗ ăn, ngủ.
- Biên lai tiền trọ của hàng quán,
- Chứng nhận của đồn Công an kế cận, trường hợp nhân viên đi công tác không có cơ quan nào tiếp nhận (nhân viên tiếp liệu…).
b) Mặt khác, các cơ quan có cán bộ ở địa phương khác đến công tác nên cố gắng thu xếp chỗ ăn, ngủ ở trong cơ quan để vừa đảm bảo an toàn, sức khỏe, vừa bảo vệ tài liệu, tiết kiệm chi tiêu cho cán bộ.
Cơ quan chỉ để anh em ra ăn, ngủ ngoài trong trường hợp không làm khác được.
| KT. BỘ TRƯỞNG BỘ TÀI CHÍNH |
Thông tư 03-TC/HCP/P1 năm 1960 sửa đổi chế độ phụ cấp lưu trú do Bộ Tài Chính ban hành.
- Số hiệu: 03-TC/HCP/P1
- Loại văn bản: Thông tư
- Ngày ban hành: 11/02/1960
- Nơi ban hành: Bộ Tài chính
- Người ký: Trịnh Văn Bính
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 8
- Ngày hiệu lực: 26/02/1960
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
