Thông tư 020-TTg được ban hành năm 1961 do Thủ tướng Chính phủ ban hành, quy định chi tiết về các chính sách đãi ngộ, chăm sóc và đào tạo đối với học sinh miền Nam tập kết ra Bắc học tập. Đây là văn bản pháp lý quan trọng thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Đảng và Nhà nước đối với thế hệ tương lai của miền Nam trong thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất nước nhà.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Thông tư áp dụng đối với toàn bộ học sinh miền Nam đang theo học tại các trường học sinh miền Nam, các trường phổ thông, chuyên nghiệp và đại học ở miền Bắc. Đồng thời, văn bản cũng quy định rõ trách nhiệm của các bộ, ngành, địa phương và các cơ sở giáo dục trực tiếp quản lý, nuôi dưỡng học sinh miền Nam.
Các chính sách cốt lõi đối với học sinh miền Nam
- Chế độ ăn uống và sinh hoạt phí: Quy định chi tiết về định mức tiền ăn hàng tháng, đảm bảo dinh dưỡng hợp lý cho từng lứa tuổi và cấp học. Nhà nước bảo đảm cung cấp đầy đủ lương thực, thực phẩm theo tiêu chuẩn ưu tiên để học sinh có đủ sức khỏe học tập và phát triển thể chất.
- Chế độ trang phục và đồ dùng cá nhân: Cấp phát định kỳ quần áo, giày dép, chăn màn, đặc biệt là quần áo ấm vào mùa đông để học sinh miền Nam thích nghi với khí hậu lạnh của miền Bắc. Các dụng cụ học tập như sách giáo khoa, vở viết, bút mực cũng được cấp phát đầy đủ và miễn phí.
- Chăm sóc y tế và sức khỏe: Thiết lập hệ thống y tế học đường tại các trường học sinh miền Nam. Học sinh được khám sức khỏe định kỳ, điều trị bệnh miễn phí và được hưởng chế độ bồi dưỡng đặc biệt khi bị ốm đau, suy nhược cơ thể hoặc phải điều trị dài ngày.
- Tổ chức giảng dạy và quản lý giáo dục: Xây dựng chương trình học tập phù hợp, kết hợp chặt chẽ giữa học tập văn hóa, rèn luyện đạo đức và lao động sản xuất nhẹ nhàng. Chú trọng bồi dưỡng tình yêu quê hương đất nước, ý thức kỷ luật và tinh thần đoàn kết Nam - Bắc.
- Chính sách hướng nghiệp và đào tạo chuyên sâu: Tạo điều kiện tối đa cho học sinh tốt nghiệp phổ thông được tiếp tục học lên các bậc học cao hơn như trung cấp chuyên nghiệp, đại học hoặc gửi đi đào tạo tại nước ngoài để chuẩn bị lực lượng cán bộ cốt cán cho sự nghiệp tiếp quản và xây dựng miền Nam sau khi giải phóng.
Hiệu lực thi hành
Thông tư 020-TTg năm 1961 có hiệu lực thi hành kể từ ngày ban hành. Các cơ quan Trung ương, Ủy ban hành chính các khu, tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm phối hợp chặt chẽ để thi hành nghiêm túc các điều khoản quy định trong Thông tư này, bảo đảm quyền lợi tốt nhất cho học sinh miền Nam.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ | VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA |
| Số: 020-TTg | Hà Nội, ngày 17 tháng 01 năm 1961 |
Trong mấy năm qua, nhờ sự chăm sóc đặc biệt của Đảng và Chính phủ, sự giúp đỡ tận tình của nhân dân và phụ huynh học sinh, và sự cố gắng của giáo viên, cán bộ, công nhân viên nhà trường, việc nuôi dạy học sinh miền Nam đã thu được kết quả tốt: hàng nghìn học sinh đã được tuyển vào các Trường Đại học và Chuyên nghiệp ở trong nước hoặc được gửi đi học ở nước ngoài, hơn một vạn học sinh đang theo học ở trường phổ thông các cấp.
Những chính sách, tiêu chuẩn, chế độ đối với học sinh miền Nam trước đây Phủ Thủ tướng ban hành đã góp phần bảo đảm việc nuôi dạy các cháu được tốt. Trong tình hình hiện nay, một số tiêu chuẩn và chế độ ấy không còn thích hợp nữa, vì tính chất bình quân, chưa chiếu cố thích đáng đến hoàn cảnh của những học sinh con em gia đình liệt sĩ, học sinh mồ côi cả cha mẹ, con thương binh tàn phế, học sinh không có cha mẹ, ở miền Bắc con gia đình cán bộ miền Nam tập kết mà mức lương còn thấp, con gia đình cán bộ đông con, đời sống khó khăn.
Để góp phần đảm bảo công tác nuôi dạy học sinh miền Nam được tốt hơn nữa, Thủ tướng Chính phủ quy định lại một số tiêu chuẩn, chế độ đối với học sinh miền Nam như sau:
a) Đối với học sinh ở trường nội trú:
Tiêu chuẩn và chế độ trợ cấp loại I:
Học sinh là con gia đình liệt sĩ, tử sĩ, con cán bộ do Ủy ban Thống nhất quản lý, con thương binh tàn phế, học sinh mồ côi cả cha mẹ hoặc không có cha mẹ ở miền Bắc, con cán bộ đông con mà thu nhập bình quân nhân khẩu trong gia đình hàng tháng dưới 18 đồng ở nông thôn, và dưới 20 đồng ở thành phố, thì được trợ cấp như sau:
- 16 đồng tiền ăn hàng tháng cho học sinh cấp I,
- 17đ50 tiền ăn hàng tháng cho học sinh cấp II, III,
- 3đ00 tiền tiêu vặt hàng tháng cho học sinh cấp I,
- 3đ50 tiền tiêu vặt hàng tháng cho học sinh cấp II,
- 4đ50 tiền tiêu vặt hàng tháng cho học sinh cấp III và các khoản khác như: trang phục, học phẩm, sách giáo khoa, tập thể phí, vui khỏe... đã quy định trong Thông tư số 115-TTg, ngày 07-03-1957 của Thủ tướng Chính phủ.
Tiêu chuẩn và chế độ trợ cấp loại II:
Học sinh có cha mẹ hiện ở miền Bắcmà thu nhập bình quân nhân khẩu trong gia đình hàng tháng trên 18 đồng ở nông thôn, và trên 20 đồng ở thành phố, thì được trợ cấp như sau:
- 16 đồng tiền ăn hàng tháng cho học sinh cấp I,
- 17đ50 tiền ăn hàng tháng cho học sinh cấp II, III. Các khoản khác do phụ huynh đài thọ.
b) Đối với học sinh ngoại trú:
Tiêu chuẩn và chế độ trợ cấp loại I:
Học sinh là con gia đình tử sĩ, liệt sĩ, con cán bộ do Ủy ban Thống nhất quản lý, con thương binh tàn phế, học sinh mồ côi cả cha mẹ hoặc không có cha mẹ ở miền Bắc, con cán bộ đông con mà thu nhập bình quân nhân khẩu trong gia đình hàng tháng dưới 18 đồng ở nông thôn, và dưới 20 đồng ở thành phố, nếu trước đây được cấp sinh hoạt phí có trang phục, nay được trợ cấp loại I, ở ngoài trường như sau:
- Mỗi tháng 20 đồng cho học sinh cấp I,
- Mỗi tháng 22 đồng cho học sinh cấp II,
- Mỗi tháng 24 đồng cho học sinh cấp III,
Tiêu chuẩn và chế độ trợ cấp loại II:
Học sinh có cha mẹ hiện ở miền Bắc mà thu nhập bình quân nhân khẩu trong gia đình hàng tháng trên 18 đồng ở nông thôn, và trên 20 đồng ở thành phố, nếu trước đây được cấp sinh hoạt phí có trang phục, nay được trợ cấp loại II ở ngoài trường như sau:
- Mỗi tháng 16 đồng cho học sinh cấp I,
- Mỗi tháng 17đ50 cho học sinh cấp II, III.
Tiêu chuẩn và chế độ trợ cấp loại III:
Học sinh có cha mẹ hiện ở miền Bắc mà thu nhập bình quân nhân khẩu trong gia đình hàng tháng trên 18 đồng ở nông thôn, và trên 20 đồng ở thành phố, nếu trước đây được cấp sinh hoạt phí không trang phục hoặc học bổng 12 đồng, nay được trợ cấp loại III ở ngoài trường: 12 đồng mỗi tháng.
Đối với những học sinh không phải là học sinh miền Nam tập kết mà trước đây đã được thu nhận vào trường hoặc được trợ cấp học ngoài trường thì nay giao lại cho gia đình và không được hưởng trợ cấp nữa.
Học sinh ăn, ở ngoài trường, nếu ốm cũng được khám bệnh và điều trị ở các bệnh viện nhân dân địa phương. Tiền bồi dưỡng thuốc men do gia đình đài thọ. Đối với những học sinh là con gia đình tử sĩ, liệt sĩ, con cán bộ do Ủy ban Thống nhất quản lý, con thương binh tàn phế, học sinh mồ côi cả cha mẹ hoặc không có cha mẹ ở miền Bắc, con cán bộ mà mức sinh hoạt còn thấp, thì địa phương sẽ đài thọ sau khi xét hoàn cảnh cụ thể.
Ủy ban Thống nhất nước có trách nhiệm quản lý những người vì lý do này hay lý do khác không còn là học sinh nữa, và cùng với Ủy ban hành chính địa phương sắp xếp cho đi học nghề, hoặc đi lao động, như vậy đã tạo điều kiện cho những người đó tiến bộ.
Những học sinh bị bệnh kinh niên, có tật, không học được nữa, nếu có cha mẹ ở miền Bắc thì giao lại cho cha mẹ, nếu không có cha mẹ thì tùy bệnh tật mà Bộ Y tế xét cho đi điều trị, điều dưỡng và trợ cấp theo chính sách chung.
Bộ Nội vụ, Bộ Tài chính, Bộ Giáo dục, Bộ Y tế, Ủy ban Thống nhất dựa vào những điều quy định trên đây để hướng dẫn việc thi hành thông tư này trong phạm vi trách nhiệm của mình.
| THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ |
Thông tư 020-TTg năm 1961 quy định chính sách đối với học sinh miền Nam do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- Số hiệu: 020-TTg
- Loại văn bản: Thông tư
- Ngày ban hành: 17/01/1961
- Nơi ban hành: Thủ tướng Chính phủ
- Người ký: Phạm Văn Đồng
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 2
- Ngày hiệu lực: 01/02/1961
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
