Thông tư 01-TC/HCP được Bộ Tài chính ban hành năm 1959 nhằm quy định về việc thống nhất mẫu sổ lương áp dụng trong các cơ quan, đơn vị hành chính sự nghiệp và các tổ chức nhà nước. Đây là văn bản pháp lý quan trọng trong giai đoạn đầu xây dựng hệ thống quản lý tài chính công, giúp chuẩn hóa công tác kế toán lao động tiền lương và kiểm soát chặt chẽ quỹ lương từ ngân sách nhà nước.
Phạm vi và đối tượng áp dụng của Thông tư
Thông tư này áp dụng đối với tất cả các cơ quan hành chính nhà nước, các đơn vị sự nghiệp, các tổ chức đoàn thể và các xí nghiệp quốc doanh có sử dụng ngân sách nhà nước để chi trả tiền lương, phụ cấp cho cán bộ, công nhân viên chức và người lao động.
Mục đích của việc thống nhất mẫu sổ lương
- Tăng cường công tác quản lý tài chính, giúp nhà nước kiểm soát chặt chẽ việc sử dụng quỹ lương, hạn chế tối đa các hành vi lãng phí, thất thoát hoặc chi sai mục đích.
- Tạo sự đồng bộ, thống nhất trong công tác kế toán, quyết toán ngân sách giữa các cơ quan, đơn vị từ trung ương đến địa phương.
- Bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người lao động thông qua việc minh bạch hóa các khoản lương, phụ cấp và các khoản khấu trừ theo quy định của pháp luật.
Các nội dung cốt lõi về quản lý và sử dụng mẫu sổ lương
- Yêu cầu về biểu mẫu thống nhất: Tất cả các đơn vị thụ hưởng ngân sách phải sử dụng đúng mẫu sổ lương do Bộ Tài chính quy định. Sổ lương phải được đóng tập, đóng dấu giáp lai và có chữ ký xác nhận của thủ trưởng đơn vị cùng kế toán trưởng trước khi đưa vào sử dụng.
- Nội dung thông tin bắt buộc trong sổ lương: Sổ lương phải thể hiện rõ ràng, chính xác các thông tin cá nhân của người lao động bao gồm họ và tên, chức vụ, hệ số lương hoặc mức lương chính, các khoản phụ cấp (phụ cấp khu vực, phụ cấp trách nhiệm, phụ cấp đắt đỏ nếu có), số ngày công làm việc thực tế, các khoản trích nộp (bảo hiểm, công đoàn phí) và số tiền thực lĩnh cuối cùng.
- Trách nhiệm của bộ phận kế toán và thủ trưởng đơn vị: Kế toán tiền lương có trách nhiệm ghi chép sổ sách hàng tháng một cách trung thực, kịp thời và chính xác. Thủ trưởng đơn vị chịu trách nhiệm liên đới trước pháp luật về tính xác thực của số liệu trên sổ lương và việc chi trả lương đúng đối tượng.
- Chế độ báo cáo và lưu trữ: Sổ lương sau khi hoàn thành quyết toán năm phải được lưu trữ bảo quản nghiêm ngặt theo quy định về lưu trữ hồ sơ tài chính. Định kỳ, các đơn vị phải gửi báo cáo tổng hợp quỹ lương về cơ quan tài chính chủ quan để phục vụ công tác thanh tra, giám sát.
Công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm
- Cơ quan tài chính các cấp phối hợp với cơ quan thanh tra nhà nước tiến hành kiểm tra định kỳ hoặc đột xuất việc lập và sử dụng sổ lương tại các đơn vị.
- Mọi hành vi tự ý thay đổi mẫu sổ, lập khống danh sách lương, khai man ngày công hoặc chi trả lương không đúng quy định đều bị coi là vi phạm kỷ luật tài chính và sẽ bị xử lý nghiêm khắc theo quy định của pháp luật hiện hành.
Hiệu lực thi hành
Thông tư 01-TC/HCP có hiệu lực thi hành kể từ ngày ban hành năm 1959. Các quy định trước đây trái với Thông tư này đều bãi bỏ.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ TÀI CHÍNH Số: 01-TC/HCP | VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ ******* Hà Nội, ngày 07 tháng 01 năm 1959 |
BỘ TRƯỞNG BỘ TÀI CHÍNH
Kính gửi: Các đơn vị dự toán cấp trung ương.
Cho đến nay mỗi nơi lập sổ lương bổng một khác, không có mẫu mực thống nhất. Cách làm cũng mỗi nơi một khác: nơi thì đánh máy sẵn thành nhiều bản dùng làm nhiều tháng, nếu cần thì sửa chữa thêm bớt, nơi thì hàng tháng phải viết tay tốn rất nhiều thì giờ.
Đặc biệt là rất ít nơi lập “Sổ thống kê theo dõi lương bổng” của tất cả nhân viên của cơ quan hoặc “Phiếu kiểm soát lương bổng cá nhân”, nên không nắm được chắc chắn số người lĩnh lương ở cơ quan, hoặc khi cần làm truy lĩnh lương thiếu hay truy nộp lương lĩnh thừa cho một số cán bộ nào đó cũng bị lúng túng vì phải tra cứu nhiều tài liệu.
Đứng trước tình hình ấy, Bộ Tài chính nhận thấy cần phải thống nhất cách lập sở lương bổng của cán bộ nhân viên nhằm đạt các mục đích sau đây:
3) Tiết kiệm số lượng giấy để lập sổ lương.
Vậy Bộ Tài chính xin đề nghị lập một sổ lương và phụ cấp dùng luôn trong một năm. Sổ lương này mở như một quyển sách, mỗi tháng một trang. Hàng tháng không viết lại các cột “Họ tên”, “Bậc lương”, “Số con được hưởng trợ cấp”.
Kèm theo đây mẫu sổ lương và bảng lương dẫn cách sử dụng sổ lương đó. Sổ lương này thay thế cho “Sổ thống kê theo dõi lương bổng của cơ quan” và “Phiếu kiểm soát lương bổng cá nhân”.
Sổ lương không phải kèm theo quyết toán hàng tháng. Khi nào cần nghiên cứu, cơ quan Tài chính sẽ cử cán bộ đến xem tại chỗ hoặc mượn xem xong rồi trả lại.
Bộ Tài chính trân trọng yêu cầu các đơn vị nghiên cứu và nếu thấy thuận lợi thì cho áp dụng ngay. Đơn vị nào có sáng kiến có thể giản đơn được hơn nữa và đạt được các mục đích trên đây, cho Bộ Tài chính biết để kịp thời phổ biến đi nơi khác.
| K. T. BỘ TRƯỞNG BỘ TÀI CHÍNH |
(Cách sử dụng sổ lương và phụ cấp của cán bộ (theo thang lương chung) thi hành trong 12 tháng
1) Tháng nào có thêm cán bộ, thì tiếp tục ghi thêm tên vào danh sách, nhưng cần chú ý: về những tháng không trả lương thì gạch ngang một dòng vào các cột lương và phụ cấp. Tháng nào bớt cán bộ, thì gạch ngang một dòng vào các cột lương và phụ cấp từ tháng đó trở đi (chú ý: không gạch bỏ tên).
Thêm hay bớt cán bộ đều phải ghi cú rõ trong cột “Chú thích”.
Xin chú ý: Cột “số thứ tự” ở đầu sổ lương, đối với đơn vị nào mà biên chế thay đổi luôn, sẽ mất tác dụng. Vậy muốn biết tổng số người lĩnh lương trong tháng, đành phải đếm ở số cột “Lương và phụ cấp hàng tháng”.
2) Nếu có sự thay đổi ảnh hưởng đến lương bổng (về ngạch bậc), về số con được hưởng trợ cấp hoặc về khu vực lương…thì giải thích ở cột “Chú thích” lý do thay đổi, đồng thời triết tính cụ thể số tiền được lĩnh.
3) Số cột trong sổ lương có thể tùy mỗi đơn vị thêm bớt. Thí dụ: nơi nào có cán bộ hưởng phụ cấp đặc biệt về lương thì có thể mở thêm một cột để ghi khoản đó. Nơi nào có rất ít cán bộ ở trong tập thể cơ quan thì có thể không cần mở cột “trừ tiền nhà, điện nước”.
4) Cuối mỗi tháng phải kết toán sổ lương là bao nhiêu tiền (chú ý ghi số tiền được lĩnh chưa trừ nợ ở cột 8) và trả cho bao nhiêu cán bộ. Sau đó Phụ trách kế toán, Phụ trách tổ chức cán bộ và Thủ trưởng cơ quan cùng ký và đóng dấu. Phụ trách tổ chức cán bộ của cơ quan phải ký sổ lương để xác nhận đúng số người trong biên chế của cơ quan.
5) Mỗi Vụ, Sở hay bộ phận công tác… nên lập một sổ lương riêng để việc trả tiền được dễ dàng mau chóng (kinh nghiệm nhiều nơi cho biết việc trả lương có thể giải quyết nhanh chóng bằng cách chuyển tiền cho từng bộ môn nhận và trả hộ thủ quỹ). Ngoài ra cần lập một bảng Tổng hợp chung cho toàn thể cơ quan để biết rõ tổng số lương và phụ cấp phải trả và tổng số người được lĩnh lương.
Bộ ……………………………….. Tên đơn vị (Vụ, Sở hay Tổ công tác) |
| Số thứ tự | HỌ VÀ TÊN | Bậc lương | Số con được hưởng trợ cấp (ghi rõ ngày sinh của mỗi cháu) | LƯƠNG VÀ PHỤ CẤP HÀNG THÁNG | TRỪ CÁC KHOẢN | Số tiền còn được lĩnh | Ký nhận | Chú thích | ||||||
| Lương chính bản thân (kể cả bảo lưu về lương) | Phụ cấp khu vực | Trợ cấp đông con (kể cả bảo lưu về phụ cấp con) | Cộng số tiền được lĩnh | Nợ cơ quan | Tiền nhà điện nước | Các khoản khác | Cộng các khoản phải trừ | |||||||
| 1 | 2 | 3 | 4 | 5 | 6 | 7 | 8 | 9 | 10 | 11 | 12 | 13 | 14 | 15 |
Kế toán là ………………. đồng, trả cho ……………………. cán bộ
| Phụ trách tổ chức cán bộ của địa phương |
Phụ trách kế toán của đơn vị | Hà Nội, ngày …………… THỦ TƯỚNG CƠ QUAN |
Chú thích:
1. Sổ này mở như quyển sách, gáy đóng vào khoảng giữa hai cột 10 và 11; mở sang hai bên: bên phải vừa hết cột 15 (tức là: cột “Chú thích”, bên trái vừa hết cột 5 (tức là cột: “Lương chính bản thân”).
Chú ý:
a) Cần chia các cột cho khéo dể gáy quyển sách vào đúng giữa hai khe hai cột 10 và 11, và khi mở ra hai bên thì trang giấy vừa khít cột 5 và cột 15, không thừa và cũng không thiếu.
b) Chỉ riêng tờ thứ nhất mới cần đóng giấy khổ rộng để ghi các cột 1, 2, 3 và 4 (ghi một lần dùng luôn trong 12 tháng) còn các tờ khác thì đóng giấy khổ hẹp để ghi từ cột 5 đến cột 15.
2. Một sổ lương chỉ cần đóng 6 tờ giấy là đủ dùng trong 12 tháng.
3. Một đơn vị có nhiều cán bộ không ghi hết vào trang thứ nhất (trang này dành cho tháng giêng) (Thí dụ: đơn vị có 45 người nhưng chỉ mới ghi được có 25 người), thì sổ lương cần đóng thêm 6 tờ giấy nữa (tổng cộng 12 tờ) để tiếp tục ghi nốt số cán bộ còn lại từ người thứ 26 đến thứ 45.
Chú ý:
a) Người thứ 26 sẽ ghi vào tờ thứ 13 vì tờ 12 tờ đầu phải dành cho 12 tháng cho số cán bộ từ 1 đến 25 rồi.
b) Trên tờ thứ 13, sẽ ghi “tháng giêng (tiếp theo)”.
c) Tờ thứ 13 phải mở rộng như tờ thứ nhất để ghi danh sách cán bộ (số thứ tự, họ và tên, ngạch bậc, số con được hưởng trợ cấp).
d) Tờ thứ 14 trở đi, vì không phải ghi danh sách cán bộ, nên chỉ cần làm hẹp, để ghi các con số từ cột 5 trở đi.
Thông tư 01-TC/HCP năm 1959 về việc thống nhất mẫu sổ lương do Bộ Tài Chính ban hành.
- Số hiệu: 01-TC/HCP
- Loại văn bản: Thông tư
- Ngày ban hành: 07/01/1959
- Nơi ban hành: Bộ Tài chính
- Người ký: Nguyễn Thanh Sơn
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 4
- Ngày hiệu lực: 22/01/1959
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
