Giới thiệu chung về văn bản
Thông báo số 43/2013/TB-LPQT công bố về hiệu lực của Hiệp định Văn hóa giữa Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hòa Hy Lạp. Hiệp định này được ký kết tại Athens ngày 09 tháng 6 năm 2008 bởi đại diện hai nước là Thứ trưởng Bộ Văn hóa - Thể thao - Du lịch Việt Nam Huỳnh Vĩnh Ái và Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Hy Lạp Theodoros Kassimis. Đây là văn bản hợp tác pháp lý quan trọng nhằm thúc đẩy mối quan hệ hữu nghị, giao lưu văn hóa, giáo dục, khoa học và thể thao giữa hai quốc gia.
Hợp tác trong lĩnh vực văn hóa, giáo dục và ngôn ngữ (Điều 1 - Điều 4)
Các điều khoản đầu tiên của Hiệp định tập trung thiết lập nền tảng cho việc giao lưu văn hóa và giáo dục giữa Việt Nam và Hy Lạp:
- Xúc tiến hợp tác văn hóa và nghệ thuật (Điều 1): Hai bên cam kết tạo cơ hội tiếp xúc trực tiếp trong các lĩnh vực ngôn ngữ, văn học, âm nhạc, xuất bản, thủ công mỹ nghệ, nghệ thuật biểu diễn và thị giác, giáo dục, truyền thông, thể thao và các hoạt động xã hội. Các biện pháp cụ thể bao gồm tổ chức triển lãm nghệ thuật; dịch thuật và xuất bản tác phẩm văn học; giới thiệu kịch, múa, âm nhạc; cử đại diện tham gia các hội thảo, liên hoan quốc tế; trao đổi chuyên gia lưu trữ, thư viện, bảo tàng, khảo cổ; và liên kết các cơ sở giáo dục.
- Trao đổi nhân lực giáo dục (Điều 2): Khuyến khích việc trao đổi sinh viên, nghiên cứu sinh, học giả, giáo viên, giảng viên, giáo sư và cán bộ quản lý giáo dục trên cơ sở tuân thủ pháp luật của mỗi nước.
- Cấp học bổng đào tạo (Điều 3): Hai bên thực hiện trao đổi các suất học bổng đại học, sau đại học và nghiên cứu tại các cơ sở giáo dục đại học theo các lĩnh vực đã thỏa thuận.
- Khuyến khích học tập ngôn ngữ và văn hóa (Điều 4): Tạo điều kiện thuận lợi cho công dân nước này học tập ngôn ngữ, văn học và tìm hiểu văn hóa của nước kia.
Hợp tác chuyên ngành về truyền thông, thể thao và khoa học (Điều 5 - Điều 10)
Hiệp định mở rộng phạm vi hợp tác sang nhiều lĩnh vực chuyên sâu khác nhằm tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau:
- Công nhận văn bằng và học vị (Điều 5): Hai bên thực hiện trao đổi thông tin, tài liệu cần thiết để hỗ trợ các cơ quan có thẩm quyền trong việc công nhận chứng chỉ, giấy chứng nhận, văn bằng, học hàm và học vị của nhau.
- Hợp tác truyền thông và xuất bản (Điều 6): Thúc đẩy trao đổi đoàn, tiếp xúc giữa các cơ quan điện ảnh, phát thanh, truyền hình, báo chí và xuất bản của hai nước.
- Giao lưu thanh niên và thể thao (Điều 7 & Điều 8): Khuyến khích trao đổi thanh niên, hợp tác trực tiếp giữa các tổ chức thanh niên; đồng thời thúc đẩy liên kết trong lĩnh vực thể thao và giáo dục thể chất giữa các tổ chức thể thao hai nước.
- Hợp tác khoa học lý thuyết và ứng dụng (Điều 9): Đây là nội dung quan trọng nhằm tạo điều kiện hợp tác giữa các viện nghiên cứu, trường đại học, học giả và chuyên gia. Các hoạt động hợp tác khoa học bao gồm:
- Cử chuyên gia, nhà khoa học đi khảo sát, tư vấn và tham quan học tập.
- Đồng thực hiện các chương trình, dự án nghiên cứu và chia sẻ kết quả đạt được.
- Tổ chức các khóa đào tạo, hội thảo khoa học chung.
- Trao đổi tư liệu nghe nhìn, tài liệu, văn bản thông tin khoa học và tổ chức triển lãm khoa học.
- Hợp tác tại các tổ chức quốc tế (Điều 10): Hai bên cam kết chủ động hỗ trợ và hợp tác với nhau trong khuôn khổ các tổ chức quốc tế về văn hóa, giáo dục và khoa học.
Cơ chế thực thi, hiệu lực và các điều khoản chung (Điều 11 - Điều 15)
Để đảm bảo tính thực thi và giá trị pháp lý, Hiệp định quy định rõ các điều khoản về mặt thủ tục:
- Cơ chế họp luân phiên (Điều 11): Đại diện của Việt Nam và Hy Lạp sẽ họp luân phiên tại mỗi nước để cụ thể hóa các chương trình hoạt động và thống nhất các điều kiện tài chính kèm theo.
- Hiệu lực của Hiệp định (Điều 12): Hiệp định chính thức có hiệu lực kể từ ngày nhận được thông báo cuối cùng bằng văn bản qua đường ngoại giao xác nhận hai bên đã hoàn tất các thủ tục pháp lý nội bộ cần thiết.
- Giải quyết tranh chấp (Điều 13): Mọi tranh chấp hoặc bất đồng phát sinh từ việc giải thích hoặc thực hiện Hiệp định sẽ được giải quyết một cách hòa bình thông qua thương lượng và thỏa thuận giữa hai bên bằng con đường ngoại giao.
- Sửa đổi, bổ sung (Điều 14): Hiệp định có thể được sửa đổi, bổ sung khi có sự đồng ý bằng văn bản của cả hai bên thông qua đường ngoại giao.
- Thời hạn hiệu lực và ngôn ngữ văn bản (Điều 15): Hiệp định có giá trị trong thời hạn năm (05) năm và tự động gia hạn thêm các chu kỳ năm (05) năm tiếp theo, trừ khi một bên gửi thông báo bằng văn bản cho bên kia trước ít nhất sáu (06) tháng về ý định chấm dứt Hiệp định. Văn bản được lập thành hai bản gốc bằng tiếng Việt, tiếng Hy Lạp và tiếng Anh. Cả ba ngôn ngữ đều có giá trị pháp lý ngang nhau, tuy nhiên nếu có sự khác biệt trong giải thích, bản tiếng Anh sẽ được dùng làm cơ sở đối chiếu.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ NGOẠI GIAO | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 43/2013/TB-LPQT | Hà Nội, ngày 28 tháng 08 năm 2013 |
THÔNG BÁO
VỀ VIỆC ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ CÓ HIỆU LỰC
Thực hiện quy định tại khoản 3 Điều 47 của Luật Ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế năm 2005, Bộ Ngoại giao trân trọng thông báo:
Hiệp định Văn hóa giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hòa Hy Lạp, ký tại A-ten ngày 09 tháng 6 năm 2008, có hiệu lực kể từ ngày 22 tháng 8 năm 2013.
Bộ Ngoại giao trân trọng gửi bản sao Hiệp định theo quy định tại Điều 68 của Luật nêu trên.
|
| TL. BỘ TRƯỞNG |
HIỆP ĐỊNH
VĂN HÓA GIỮA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HÒA HY LẠP
Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hòa Hy Lạp (sau đây gọi là "các Bên");
Mong muốn tiếp tục phát triển quan hệ hợp tác văn hóa giữa Chính phủ và nhân dân hai nước trên cơ sở có đi có lại và cùng có lợi;
Nhận thức được rằng việc hợp tác sẽ góp phần thức đẩy mối quan hệ và hiểu biết lẫn nhau hơn giữa nhân dân hai nước;
Đã quyết định ký Hiệp định văn hóa này với nội dung sau đây:
Điều 1.
1. Các Bên xúc tiến việc hợp tác cũng như tạo cơ hội thích hợp cho các cuộc tiếp xúc trực tiếp trong các lĩnh vực:
a. Ngôn ngữ và văn học, âm nhạc, xuất bản, nghề thủ công, nghệ thuật biểu diễn, nghệ thuật thị giác và các hoạt động khác thuộc lĩnh vực văn hóa;
b. Giáo dục và nghiên cứu;
c. Truyền thông đại chúng;
d. Các hoạt động xã hội và thanh niên;
e. Thể thao.
2. Để đạt được mục đích này, các Bên khuyến khích và tạo điều kiện, trên cơ sở có đi có lại và cùng có lợi, các hoạt động hợp tác đã nêu trên thông qua:
a. Trao đổi các triển lãm và trưng bày các tác phẩm văn hóa và văn học, nghệ thuật;
b. Dịch và xuất bản các tác phẩm văn học, nghệ thuật;
c. Giới thiệu các tác phẩm kịch, múa và âm nhạc;
d. Cử đại diện tham gia các đại hội, hội thảo, hội nghị, diễn đàn, liên hoan, các cuộc thi, các hội chợ sách và các sự kiện văn hóa quốc tế khác được tổ chức tại mỗi nước;
e. Trao đổi chuyên gia và thông tin cũng như phát triển hợp tác trong lĩnh vực lưu trữ, thư viện, lịch sử, bảo tàng, khảo cổ, kiến trúc, hội họa, điêu khắc, văn học, văn nghệ dân gian, sân khấu, âm nhạc, xuất bản và các lĩnh vực nghệ thuật liên quan khác;
f. Trao đổi trong lĩnh vực truyền thông đại chúng;
g. Liên kết chặt chẽ giữa các cơ sở giáo dục các cấp.
Điều 2.
Các Bên khuyến khích việc trao đổi sinh viên, nghiên cứu sinh, học giả, giáo viên, giảng viên, các nhà nghiên cứu, các giáo sư, các cán bộ quản lý cũng như các chuyên gia khác trong lĩnh vực giáo dục trên cơ sở phù hợp với các quy định của luật pháp mỗi nước.
Điều 3.
Các bên, trên cơ sở phù hợp với các quy định của pháp luật mỗi nước, sẽ trao đổi các học bổng đại học, sau đại học cũng như nghiên cứu tại các cơ sở đào tạo đại học trong các lĩnh vực do Các bên thỏa thuận.
Các Bên, phù hợp với quy định của pháp luật mỗi nước, cố gắng khuyến khích và tạo điều kiện cho việc học ngôn ngữ, văn học và văn hóa của nước kia.
Phù hợp với quy định của pháp luật mỗi nước, các Bên sẽ trao đổi thông tin và tài liệu nhằm giúp các cơ quan có thẩm quyền công nhận các chứng chỉ, giấy chứng nhận, văn bằng và các danh hiệu học hàm và học vị.
Các Bên, phù hợp với quy định của pháp luật mỗi nước, xúc tiến việc hợp tác cũng như khuyến khích trao đổi đoàn và tiếp xúc giữa các cơ quan liên quan trong lĩnh vực điện ảnh, phát thanh và truyền hình, báo chí và xuất bản.
Các Bên, trên cơ sở phù hợp với chính sách và quy định của pháp luật mỗi nước, xúc tiến việc trao đổi thanh niên, hợp tác và tiếp xúc trực tiếp giữa các tổ chức thanh niên hai nước.
Điều 8.
Các Bên khuyến khích tiếp xúc trực tiếp và hợp tác trong lĩnh vực thể thao, giáo dục thể chất giữa các tổ chức thể thao của mình.
Các Bên khuyến khích và tạo điều kiện, trên cơ sở cùng có lợi, trao đổi và hợp tác trong các lĩnh vực khoa học lý thuyết và ứng dụng và tạo các cơ hội thích hợp cho việc tiếp xúc trực tiếp giữa các viện và tổ chức khoa học, các cơ sở nghiên cứu và các trường đại học cũng như là các cơ sở đào tạo sau đại học, các học giả, các nhà nghiên cứu và các chuyên gia của hai nước. Các bên cũng đồng thời khuyến khích các hoạt động chung trong các lĩnh vực chuyên ngành và chủ đề mà hai Bên cùng quan tâm.
Nhằm thực hiện việc hợp tác khoa học, các Bên sẽ chỉ định các cơ quan, tổ chức liên quan để xây dựng phương thức phù hợp cho chương trình hoạt động chung dưới các hình thức dưới đây:
a. Thăm quan, khảo sát và tư vấn của các nhà nghiên cứu, các nhà khoa học và các chuyên gia khác;
b. Hợp tác và cùng thực hiện các chương trình, dự án nghiên cứu và tiến hành trao đổi các kết quả nghiên cứu từ các chương trình, dự án này;
c. Tổ chức các khóa đào tạo, hội thảo và hội nghị chung;
d. Trao đổi các tư liệu nghe nhìn mang tính khoa học;
e. Tổ chức các cuộc triển lãm, trưng bày khoa học;
f. Trao đổi các tài liệu, văn bản và thông tin khoa học.
Các Bên thúc đẩy việc chủ động hợp tác trong các tổ chức quốc tế trên các lĩnh vực văn hóa, giáo dục và khoa học.
Điều 11.
Để thực hiện Hiệp định này, đại diện của các Bên sẽ họp luân phiên tại Việt Nam và Hy Lạp để cụ thể hóa chương trình hoạt động cũng như các điều kiện về tài chính.
Điều 12.
Hiệp định này có hiệu lực kể từ ngày phát hành thông báo cuối cùng của một Bên cho phía Bên kia về việc hoàn tất các thủ tục pháp lý cần thiết để Hiệp định có hiệu lực.
Điều 13.
Bất kỳ tranh chấp hoặc bất đồng nào giữa các Bên nảy sinh từ hoặc liên quan đến việc thực hiện hoặc giải thích Hiệp định này sẽ được giải quyết trên cơ sở thỏa thuận giữa các Bên thông qua đường ngoại giao.
Hiệp định này có thể được sửa đổi nếu có sự chấp thuận bằng văn bản của các Bên thông qua đường ngoại giao.
Hiệp định này có hiệu lực trong thời hạn năm (5) năm và được mặc nhiên gia hạn từng năm (5) năm một, trừ khi một trong hai Bên thông báo bằng văn bản cho phía Bên kia trước sáu (6) tháng về ý định muốn chấm dứt Hiệp định này.
Hiệp định này được ký tại A-len, ngày 09 tháng 6 năm 2008, thành hai bản gốc, bằng tiếng Việt, tiếng Hy Lạp và tiếng Anh. Tất cả các văn bản có giá trị pháp lý như nhau. Trong trường hợp có sự giải thích khác nhau, văn bản tiếng Anh sẽ được dùng làm cơ sở.
| THAY MẶT CHÍNH PHỦ | THAY MẶT CHÍNH PHỦ |
- 1Luật Ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế 2005
- 2Công văn số 875/TTg-QHQT về việc ký Hiệp định vận chuyển hàng không Việt Nam – Hy Lạp do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- 3Thông báo hiệu lực của Hiệp định vận chuyển hàng không giữa Việt Nam - Hy Lạp
- 4Thông báo hiệu lực của Hiệp định về khuyến khích bảo hộ đầu tư lẫn nhau giữa Việt Nam - Hy Lạp
Thông báo 43/2013/TB-LPQT về hiệu lực của Hiệp định Văn hóa giữa Việt Nam - Hy Lạp
- Số hiệu: 43/2013/TB-LPQT
- Loại văn bản: Điều ước quốc tế
- Ngày ban hành: 09/06/2008
- Nơi ban hành: Chính phủ Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Chính phủ nước Cộng hòa Hy Lạp
- Người ký: Huỳnh Vĩnh Ái, Treodoros Kassimis
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Từ số 561 đến số 562
- Ngày hiệu lực: 22/08/2013
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
