Sắc lệnh số 73 do Chủ tịch Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ban hành quy định chi tiết về các điều kiện, thủ tục và quyền lợi liên quan đến việc nhập quốc tịch Việt Nam đối với người nước ngoài. Đây là một trong những văn bản pháp lý đặt nền móng đầu tiên cho hệ thống pháp luật về quốc tịch của nước Việt Nam độc lập, thể hiện chính sách mở rộng, tự do và tôn trọng quyền con người của chính quyền cách mạng non trẻ.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Sắc lệnh này áp dụng đối với tất cả người nước ngoài (người ngoại quốc) có nguyện vọng gia nhập quốc tịch Việt Nam, con vị thành niên của họ, cùng các cơ quan nhà nước có thẩm quyền từ cấp tỉnh, cấp kỳ cho đến các Bộ ngành Trung ương chịu trách nhiệm tiếp nhận, thẩm định và phê duyệt hồ sơ.
Điều kiện để người nước ngoài được nhập quốc tịch Việt NamĐể được xem xét nhập quốc tịch Việt Nam, người ngoại quốc phải đáp ứng đầy đủ 6 điều kiện cơ bản sau đây:
- Phải đủ 18 tuổi trở lên (tính theo tuổi trưởng thành pháp lý).
- Đã có thời gian cư trú thực tế liên tục hoặc tích lũy từ 10 năm trở lên trên đất nước Việt Nam.
- Có địa chỉ trú quán rõ ràng và ổn định tại Việt Nam.
- Biết tiếng nói Việt Nam (tiếng Việt) để đảm bảo khả năng giao tiếp và hòa nhập vào cộng đồng.
- Có tư cách đạo đức và hạnh kiểm tốt, được cơ quan chức năng xác nhận.
- Trường hợp người nộp đơn đã kết hôn thì phải có sự thỏa thuận và đồng ý từ người vợ hoặc người chồng là người ngoại quốc của mình.
- Quyền lợi của con vị thành niên: Tất cả con chưa đến tuổi trưởng thành (vị thành niên) của người được chấp thuận nhập quốc tịch Việt Nam sẽ tự nhiên được hưởng quốc tịch Việt Nam cùng với cha hoặc mẹ của chúng mà không cần làm thủ tục riêng.
- Quyền và nghĩa vụ công dân: Người sau khi hoàn tất thủ tục nhập quốc tịch Việt Nam sẽ được hưởng đầy đủ mọi quyền lợi hợp pháp, đồng thời phải gánh vác và thực hiện toàn bộ nghĩa vụ của một công dân Việt Nam theo quy định của pháp luật.
Quy trình giải quyết hồ sơ xin nhập quốc tịch được thực hiện chặt chẽ qua các bước sau:
- Bước 1: Người xin nhập quốc tịch làm đơn đệ trình lên Ủy ban nhân dân tỉnh nơi mình đang cư trú hợp pháp.
- Bước 2: Ủy ban nhân dân tỉnh tiến hành điều tra, xác minh lý lịch, tư cách của người nộp đơn, đưa ra ý kiến nhận xét cụ thể rồi chuyển hồ sơ lên Ủy ban kỳ.
- Bước 3: Ủy ban kỳ xem xét, phê duyệt ý kiến của mình vào hồ sơ và tiếp tục đệ trình lên Bộ Tư pháp để thẩm định chuyên môn.
- Bước 4: Khi đơn xin nhập quốc tịch được Bộ Tư pháp chấp nhận, một sắc lệnh chính thức sẽ được ban hành để công nhận tư cách công dân Việt Nam cho người xin nhập quốc tịch.
Do bối cảnh lịch sử lúc bấy giờ gặp nhiều khó khăn về mặt giao thông và thông tin liên lạc, Sắc lệnh đã đưa ra một cơ chế đặc cách mang tính tạm thời:
- Những người ngoại quốc xin nhập quốc tịch Việt Nam đã được Ủy ban nhân dân tỉnh thẩm định có đủ điều kiện và chấp thuận thì được phép hưởng ngay quyền bầu cử và ứng cử.
- Nhóm đối tượng này được thực hiện các quyền chính trị nêu trên ngay lập tức mà không bắt buộc phải chờ đợi cho đến khi có sắc lệnh chính thức cho phép nhập quốc tịch từ Chính phủ Trung ương.
Sắc lệnh có hiệu lực kể từ ngày ban hành. Bộ trưởng Bộ Nội vụ và Bộ trưởng Bộ Tư pháp chịu trách nhiệm chiểu sắc lệnh này để thi hành nghiêm túc trên phạm vi cả nước.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
SẮC LỆNH
CỦA CHỦ TỊCH CHÍNH PHỦ LÂM THỜI SỐ 73 NGÀY 7 THÁNG 12 NĂM 1945
Xét vì trên đất nước Việt Nam có những người ngoại quốc đến ở đã lâu năm và đã sống như dân Việt Nam;
Xét vì một số đông những người ấy đã tự ý tỏ lòng trung thành với nước Việt Nam dân chủ cộng hoà và đã yêu cầu muốn được dự vào cuộc tổng tuyển cử;
Xét tình thế hiện thời;
Sau khi Hội đồng Chính phủ đã thảo luận ngày mồng 6 tháng 12 năm 1945,
1- Đủ 18 tuổi.
2- Đã ở 10 năm trên đất nước Việt Nam.
3- Có trú quán nhất định trong nước Việt Nam.
4- Biết tiếng nói Việt Nam.
5- Có hạnh kiểm tốt.
6- Nếu có vợ chồng là người ngoại quốc thì phải được người vợ hay chồng thoả thuận cho nhập quốc tịch Việt Nam.
Người xin phải đệ đơn lên Uỷ ban nhân dân tại tỉnh nơi mình ở.
Uỷ ban tỉnh sẽ điều tra và cho ý kiến rồi tư lên Uỷ ban kỳ.
Uỷ ban kỳ phê ý kiến rồi đệ lên Bộ Tư pháp xét.
Khi đơn được Bộ Tư pháp chấp nhận thì một sắc lệnh sẽ cho người xin được nhập quốc tịch Việt Nam.
|
| Hồ Chí Minh (Đã ký)
|
- 1Sắc lệnh số 53 về việc quy định quốc tịch Việt nam do Chủ tịch Chính phủ lâm thời ban hành
- 2Nghị quyết số 1043-NQ/TVQH về việc xin thôi hoặc nhập quốc tịch Việt nam do Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành
- 3Luật Quốc tịch Việt Nam 1988
- 4Công văn 1007/BTP-HCTP năm 2013 về giải quyết nhập quốc tịch Việt Nam theo Điều 22 Luật Quốc tịch năm 2008 do Bộ Tư pháp ban hành
- 1Sắc lệnh số 53 về việc quy định quốc tịch Việt nam do Chủ tịch Chính phủ lâm thời ban hành
- 2Nghị quyết số 1043-NQ/TVQH về việc xin thôi hoặc nhập quốc tịch Việt nam do Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành
- 3Công văn 1007/BTP-HCTP năm 2013 về giải quyết nhập quốc tịch Việt Nam theo Điều 22 Luật Quốc tịch năm 2008 do Bộ Tư pháp ban hành
Sắc lệnh số 73 về việc quy định về việc nhập quốc tịch Việt nam do Chủ tịch Chính phủ lâm thời ban hành
- Số hiệu: 73
- Loại văn bản: Sắc lệnh
- Ngày ban hành: 07/12/1945
- Nơi ban hành: Chủ tịch nước
- Người ký: Hồ Chí Minh
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 15
- Ngày hiệu lực: 22/12/1945
- Ngày hết hiệu lực: 15/07/1988
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
