Sắc lệnh số 18-SL do Chủ tịch Chính phủ Lâm thời Hồ Chí Minh ký ban hành là một văn bản pháp lý đặt nền móng cho chế độ lưu chiểu văn hóa phẩm tại Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Văn bản quy định chi tiết về nghĩa vụ, thủ tục, đối tượng và các chế tài xử phạt liên quan đến việc nộp lưu chiểu các sản phẩm văn hóa nhằm mục đích tàng trữ, bảo tồn và xây dựng kho tài liệu cho nền văn hóa quốc gia.
Dưới đây là tóm tắt chi tiết và chuyên sâu toàn bộ nội dung của Sắc lệnh số 18-SL:
- Phạm vi áp dụng và các loại văn hóa phẩm phải nộp lưu chiểu
- Các văn hóa phẩm bắt buộc phải nộp lưu chiểu: Áp dụng đối với tất cả các sản phẩm văn hóa trong toàn quốc Việt Nam, dù phát miễn phí, bán hay cho thuê, bao gồm: các tác phẩm ấn loát (sách, báo, tạp chí, tranh ảnh in, ấn họa, khắc họa, thiếp thư có in ảnh, bản đồ...); các tác phẩm âm nhạc (bản đàn, bản hát); ảnh chụp; phim chiếu bóng; và đĩa hát.
- Các ấn loát phẩm được miễn lưu chiểu: Các loại giấy tờ thông dụng không mang tính chất phổ biến văn hóa như giấy tờ tư gia (giấy viết thư có tiêu đề, danh thiếp, thiếp mời, phong bì); giấy tờ thương mại (bảng giá, đơn hàng, biên lai, nhãn hiệu, giấy quảng cáo, mẫu sổ sách); giấy tờ hành chính của các sở công và tư; phiếu bầu cử, ngân phiếu và các loại giấy tờ tương tự.
- Thiết lập Sổ Lưu chiểu văn hóa phẩm toàn quốc: Đặt ra hệ thống sổ lưu chiểu quốc gia với hai nhiệm vụ cốt lõi là thu nạp toàn bộ các văn hóa phẩm thuộc diện bắt buộc và tàng trữ các phẩm vật này để làm tài liệu phục vụ cho nền văn hóa nước nhà.
- Đối tượng chịu trách nhiệm và thông tin bắt buộc trên văn hóa phẩm
- Đối tượng có nghĩa vụ nộp lưu chiểu: Nhà in hoặc nhà sản xuất có nghĩa vụ nộp 2 bản văn hóa phẩm do mình in hoặc sản xuất. Nhà xuất bản có nghĩa vụ nộp 8 bản văn hóa phẩm do mình xuất bản. Cả nhà in, nhà sản xuất và nhà xuất bản đều phải lập sổ ghi chép theo thứ tự thời gian các tác phẩm do mình thực hiện.
- Thông tin bắt buộc phải ghi trên văn hóa phẩm đem nộp: Trên mỗi bản nộp phải thể hiện rõ tên và địa chỉ của người in/nhà sản xuất; ngày tháng năm in, sản xuất hoặc xuất bản; dấu hiệu “Lưu chiểu văn hóa” kèm ngày nộp; số thứ tự trong sổ lưu trữ của cơ sở.
- Quy định đối với các trường hợp đặc biệt: Tác giả tự xuất bản không cần khai số thứ tự nhưng phải ghi rõ “do tác giả xuất bản lấy”. Tác phẩm tái bản phải ghi thêm ngày tháng nộp lưu chiểu lần đầu. Ảnh chụp phải có tên/dấu hiệu tác giả và ngày phát hành. Phim chiếu bóng nộp lưu chiểu phải giống hệt bản chiếu cho công chúng.
- Thể lệ lưu chiểu áp dụng riêng cho nhà in và nhà sản xuất
- Thời hạn và phương thức nộp: Nhà in hoặc nhà sản xuất phải nộp sản phẩm ngay sau khi hoàn thành. Việc nộp có thể thực hiện trực tiếp hoặc gửi qua bưu điện theo hình thức bảo đảm miễn phí cước tem. Trường hợp tác phẩm do nhiều bên hợp tác sản xuất, người hoàn thành công đoạn cuối cùng trước khi giao cho nhà xuất bản sẽ chịu trách nhiệm nộp.
- Nơi tiếp nhận và lưu trữ: Toàn bộ bản nộp của nhà in và nhà sản xuất sẽ do Sở Lưu chiểu văn hóa phẩm toàn quốc tại Hà Nội tiếp nhận và tàng trữ.
- Trường hợp giảm số lượng bản nộp: Nhà in/nhà sản xuất chỉ phải nộp 1 bản đối với các trường hợp: tác phẩm tái bản, bản mỹ lệ, ấn họa, khắc họa có số lượng in không quá 300 bản; đĩa hát; phim chiếu bóng; bản nhạc.
- Yêu cầu về tờ khai lưu chiểu (Mẫu số 1): Khi nộp phải kèm theo tờ khai gồm các nội dung: tên người in/sản xuất; đầu đề tác phẩm; số bản phát hành; họ tên tác giả (hoặc bút danh); thông tin người thuê in; ngày in xong; số thứ tự trong sổ nhà in. Tờ khai được lập thành 2 bản nếu nộp tại cơ quan toàn quốc (1 bản trả lại làm biên lai), hoặc 3 bản nếu nộp tại cơ quan Trung bộ/Nam bộ (để lưu địa phương, gửi toàn quốc và trả người nộp).
- Thể lệ lưu chiểu áp dụng riêng cho nhà xuất bản
- Định nghĩa nhà xuất bản: Bao gồm cá nhân, hội, liên đoàn, công ty thương mại/kỹ nghệ, cơ quan công/tư, đại lý sách ngoại quốc thực hiện việc bán, phát hành, cho thuê văn hóa phẩm, bao gồm cả tác giả tự xuất bản.
- Thời hạn và số lượng nộp: Phải nộp đủ 8 bản trước khi bán, phát hành hoặc cho thuê (riêng bản đàn được gia hạn trong vòng 3 tháng). Đối với tác phẩm tái bản, bản mỹ lệ, ấn họa/khắc họa có số lượng xuất bản dưới 300 bản và đĩa hát thì nộp 3 bản; phim chiếu bóng nộp 2 bản; bản đàn phát hành dưới 10 bản chỉ cần nộp 1 bản.
- Yêu cầu về tờ khai lưu chiểu (Mẫu số 2): Tờ khai của nhà xuất bản phải ghi rõ đầu đề; tên tác giả, nhà in, nhà xuất bản; ngày phát hành; giá bán; số lượng phát hành; kích thước (phân mét); số trang và tranh phụ bản; ngày in xong; số thứ tự của nhà xuất bản. Đối với báo chí, định kỳ có thể nộp tờ khai tổng hợp vào cuối năm, nhưng phải khai ngay khi ra số đầu tiên hoặc khi có thay đổi về hình thức, nhân sự quản lý.
- Phân phối các bản lưu chiểu của nhà xuất bản: Trong số 8 bản nộp, 2 bản được tàng trữ tại Nha Lưu trữ công văn và Thư viện toàn quốc; 2 bản tại Sở Lưu trữ công văn và Thư viện Trung bộ; 2 bản tại Sở Lưu trữ công văn và Thư viện Nam bộ; 2 bản còn lại dùng cho việc trao đổi văn hóa quốc tế. Các loại hình đặc biệt như đĩa hát, phim, bản tái bản giới hạn chỉ tàng trữ tại cơ quan toàn quốc.
- Chế tài xử phạt và biện pháp cưỡng chế thi hành
- Biện pháp cưỡng chế mua bổ sung: Nếu không nộp hoặc nộp thiếu, sau 1 tháng kể từ khi nhận được thư đòi bảo đảm từ Sở Lưu chiểu mà vẫn không thực hiện, cơ quan lưu chiểu có quyền tự mua số bản thiếu và bắt buộc nhà in, nhà sản xuất, nhà xuất bản phải thanh toán chi phí. Nếu đối tượng từ chối thanh toán, vụ việc sẽ được chuyển sang tòa án giải quyết. Thời hạn áp dụng biện pháp này là 10 năm kể từ ngày phát hành (hoặc tính từ ngày gửi thư bảo đảm đòi).
- Hình phạt tiền và tịch thu tang vật: Hành vi cố ý không nộp lưu chiểu bị phạt tiền từ 100 đến 500 đồng; nếu tái phạm sẽ bị phạt từ 500 đến 2.000 đồng, đồng thời vẫn phải bồi hoàn chi phí mua bản thiếu. Các văn hóa phẩm phát hành trái phép (không nộp lưu chiểu) có thể bị tịch thu. Thời hạn thi hành các hình phạt này là 3 năm kể từ ngày tuyên án.
- Các điều khoản thi hành và quy định bổ sung
- Mối quan hệ với các luật lệ khác: Luật lệ lưu chiểu văn hóa phẩm hoạt động độc lập, không thay thế hay ảnh hưởng đến các quy định khác về báo chí như kiểm duyệt, tuyên truyền, nộp bản cho Tòa án hay cơ quan Liêm phóng.
- Quyền tiếp cận thông tin: Tác giả, nhà in, nhà sản xuất, nhà xuất bản hoặc người thừa kế hợp pháp có quyền tra cứu, xin sao chép lại các tờ khai lưu chiểu đã nộp.
- Trách nhiệm tổ chức và thi hành: Bộ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục chịu trách nhiệm quy định chi tiết về việc tổ chức các sở Lưu chiểu văn hóa phẩm. Sắc lệnh này bãi bỏ toàn bộ các thể lệ lưu chiểu trước đây. Các Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Bộ Công chính và Giao thông, và Bộ Quốc gia Giáo dục chịu trách nhiệm thi hành sắc lệnh này.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| CHÍNH PHỦ LÂM THỜI Số : 18-SL | VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA Hà Nội, ngày 31 tháng 01 năm 1946 |
CHỦ TỊCH CHÍNH PHỦ LÂM THỜI VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA
Xét rằng việc tàng trữ văn hóa phẩm là một việc cần thiết cho quốc gia về phương diện văn hóa;
Chiếu lời đề nghị của Bộ trưởng bộ Quốc gia Giáo dục.
RA SẮC LỆNH:
CÁCH TỔ CHỨC VIỆC LƯU CHIỂU VĂN HÓA PHẨM
Điều 1. – Trong toàn quốc Việt nam, những văn hóa phẩm kể sau đây, hoặc phát không, hoặc bán, hoặc cho thuê, đều phải nộp theo luật lệ “lưu chiểu văn hóa phẩm”:
1) tác phẩm ấn loát: sách, báo, tạp chí, tranh ảnh in ấn họa, khắc họa, thiếp thư có in ảnh, địa đồ v.v…
2) tác phẩm về âm nhạc (bản đàn, bản hát)
3) những bức ảnh chụp
4) phim chiếu bóng
5) đĩa hát
Điều 2. – Những ẩn loát phẩm sau này không phải theo luật nói trong điều thứ nhất:
1) Giấy thường dùng của tư gia như giấy viết thư có tiêu đề và địa chỉ, danh thiếp, thiếp mời, phong bì có tiêu đề v.v…
2) Giấy thường dùng của nhà buôn, bán kê giá hàng, đơn hàng, biên lai, nhãn hiệu, giấy quảng cáo, mẫu sổ sách, giấy viết thư và phong bì có in tên hiệu buôn;
3) Giấy thường dùng trong các sở công và tư; sổ sách, giấy viết thư và phong bì in
4) Phiếu bầu, ngân phiếu v.v…
Điều 3. – Trong nước Việt nam đặt một sổ Lưu chiểu văn hóa phẩm toàn quốc, có những nhiệm vụ sau này:
1) Thu nạp các văn hóa phẩm kể trong điều thứ nhất;
2) Tàng trữ các phẩm vật ấy dùng để làm tài liệu cho nền văn hóa quốc gia.
Điều 4. – Những người sau này phải tuân theo luật-lệ “Lưu chiểu văn hóa phẩm”
1) Nhà in hay nhà sản xuất phải nộp 2 bản văn hóa-phẩm của mình đừng in hay sản-xuất.
2) Nhà xuất bản phải nộp 8 bản văn hóa phẩm của mình xuất bản
Nhà in hay nhà xuất bản và nhà xuất bản nào cũng phải có một số quyển sổ trong đó ghi các văn hóa phẩm do mình in, sản xuất hay xuất bản, theo số thứ tự có chua ngày tháng ở bên cạnh.
Điều 5. – Trên từng bản văn hóa phẩm đem nộp tại sở Lưu chiểu văn hóa phẩm phải ghi:
1) tên người in hay người sản xuất
2) chỗ ở của người in hay người sản xuất
3) In, sản-xuất hay xuất bản ngày tháng nào
4) dấu hiệu “Lưu chiểu văn-hóa bên cạnh có để ngày nộp
5) số thứ tự ở quyển sổ nói ở đoạn thứ 3 trong điều thứ 4
Người nào đứng xuất bản lấy tác phẩm của mình, không phải khai số thứ tự nói trên, nhưng phải để thêm: “do tác giả xuất bản lấy”
Mỗi khi một văn hóa phẩm tái bản thì trên những bản đem nộp, ngoài những điều khai kể trên, phải ghi thêm ngày tháng đem nộp lần đầu.
Những ảnh chụp, bất cứ loại nào, in ra để phát không, để bán hoặc cho thuê để chụp lại đều phải ghi tên hay dấu hiệu của tác giả và ngày phát hành. Các bản nộp ở sở Lưu chiểu văn hóa phẩm phải giống hệt bản chính.
Những bản phim chiếu bóng nộp ở sở Lưu chiểu văn hóa phẩm phải giống hệt những bản chiếu cho công chúng.
THỂ LỆ NHÀ IN HAY NHÀ SẢN XUẤT PHẢI TUÂN THEO
Điều 6. – Nhà in hay nhà sản xuất phải nộp văn hóa phẩm ngay sau khi hoàn thành. Có thể tự mình mang đến sở Lưu chiểu văn hóa phẩm nộp hoặc có thể gửi nhà Bưu điện theo lối bảo đảm mà không mất tiền tem.
Nếu một văn hóa phẩm phải cần đến nhiều nhà in hay nhiều nhà sản xuất góp sức vào thì người phụ trách việc đem nộp sở Lưu chiểu văn hóa phẩm là người làm xong sau cùng, trước khi giao cho nhà xuất bản.
Điều 7. – Những bản của nhà in và nhà sản xuất nộp sẽ do sở Lưu chiểu văn hóa phẩm toàn quốc ở Hà nội, nhận và tàng trữ mà thôi.
Điều 8. – Những văn hóa phẩm tái bản, những bản mỹ lệ, những ấn họa và khắc họa, in hoặc sản xuất không quá 300 bản thì nhà in hay nhà sản xuất chỉ phải nộp một bản.
Những đĩa hát, phim chiếu bóng và những bản âm nhạc cũng chỉ phải nộp một bản.
Điều 9. – Nhà in hay nhà sản-xuất mỗi khi nộp một văn hóa phẩm phải kèm theo một tờ khai như sau (mẫu thứ 1):
1) Tên người in hay người sản-xuất
2) Đầu đề của văn hóa phẩm đem nộp
3) Số bản phát hành
4) Tên và họ tác giả, nếu có tên hiệu hay muốn giấu tên thì phải chua rõ
5) Tên, chỗ ở và nghề nghiệp của người thuê in
6) Ngày in xong văn hóa phẩm
7) Số thứ tự ở quyển số của nhà in hay nhà sản xuất đã nói ở điều thứ 4
Nếu nộp ở sở Lưu chiểu văn hóa phẩm toàn quốc thì tờ khai làm 2 bản, một bản có ký nhận sẽ trả cho người nộp giữ làm biên lai.
Nếu nộp ở sở Lưu chiểu văn hóa phẩm Trung bộ hay Nam bộ thì tờ khai làm 3 bản, một bản giữ lại ở sở địa phương, một bản gửi cho sở toàn quốc và một bản trả cho người đem nộp.
Người in báo hay tạp chí có thể nộp kèm với số cuối năm một tờ khai kể gồm cả những sổ đã nộp trong năm vừa qua.
Những nhà điêu khắc và những nhà nhiếp ảnh in dần dần tác phẩm để bán hoặc cho thuê, thì trên tờ khai phải nói rằng sổ phát hành không nhất định.
THỂ LỆ NHÀ XUẤT BẢN PHẢI TUÂN THEO
Điều 10. - Những người, hội, liên đoàn, công ty thương mại hay kỹ nghệ, sở, công hay tư, đại lý chính của các hàng sách ngoại quốc, đứng bán, phát hành hay cho thuê những văn hóa phẩm đều coi là nhà xuất bản.
Định nghĩa như thế thì tất nhiên những nhà văn hóa tự xuất bản lấy tác phẩm của mình cũng coi là nhà xuất bản.
Những người hay cơ quan nói trên phải nộp 8 bản những văn hóa phẩm do mình xuất bản, có thể đem nộp thẳng đến sở Lưu chiểu văn hóa phẩm hay gửi nhà Bưu điện theo lối bảo đảm mà không mất tiền tem.
Việc nộp đó phải làm trước khi bán, phát không hay cho thuê. Các bản đàn có thể nộp trong một hạn 3 tháng.
Những văn hóa phẩm tái bản, những bản mỹ lệ những ấn họa và khắc họa, xuất bản không quá 300 bản chỉ phải nộp 3 bản.
Đĩa-hát phải nộp 3 bản
Phim chiếu bóng phải nộp 2 bản
Những bản đàn phát hành dưới 10 bản phải nộp 1 bản
Điều 11. – Nhà xuất bản, mỗi khi nộp một văn hóa phẩm phải kèm theo một tờ khai như sau (mẫu thứ 2)
1) Đầu đề của văn hóa phẩm đem nộp
2) Tên tác giả, tên người in hay người sản xuất và tên người xuất bản
3) Ngày đem bán, phát không hay cho thuê
4) Giá tiền
5) Số phát hành
6) Khổ văn hóa phẩm tính bằng phân mét
7) Số trang và tranh phụ bán
8) Ngày in xong
9) Số thứ tự ở trong số của nhà xuất bản đã nói ở điều thứ 4.
Cách thức làm tờ khai theo như điều thứ 9
Người xuất bản báo hay tạp chí có thể nộp kèm với số cuối năm một tờ khai kể gồm cả những số đã nộp trong năm vừa qua, nhưng mỗi khi báo hay tạp chí mới ra đời thì khi nộp số đầu phải nộp tờ khai ngay. Mỗi khi báo hay tạp chí thay đổi gì trong hình thể (khổ, địa chỉ, nhà in, kỳ hạn, chủ nhiệm, quản lý v.v… )cũng phải khai ngay.
Điều 12. – Những bản của nhà xuất bản nộp sẽ phân phát như sau này
2 bản tàng trữ ở nha Lưu trữ công văn và Thư viện toàn quốc
2 bản tàng trữ ở sở Lưu trữ công văn và Thư viện Trung bộ
2 bản tàng trữ ở sở Lưu trữ công văn và Thư viện Nam bộ
2 bản dùng trong việc trao đổi văn hóa với ngoại quốc do nha Lưu trữ công văn và Thư-viện công văn và Thư viện toàn quốc phụ trách
Những văn hóa phẩm tái bản những bản mỹ lệ, những đĩa hát và những phim chiếu bóng, chỉ tàng trữ tại sở Lưu chiểu văn hóa phẩm toàn quốc mà thôi.
Điều 13. – Nếu nhà in, nhà sản xuất hay nhà xuất bản nào không nộp tác-phẩm của mình, hoặc không nộp đủ số bản đã định trong điều thứ 4, 8 và 10, sở Lưu chiểu văn hóa phẩm, sau khi đã viết thư bảo đảm đòi mà thấy vô hiệu, thì một tháng sau, có quyền mua số văn hóa phẩm không nộp hay nộp thiếu, phí tổn nhà in, nhà sản xuất hay nhà xuất bản phải chịu.
Sau khi mua và nhận rồi, sở Lưu chiểu văn hóa phẩm gửi đơn hàng cho các nhà in, nhà sản xuất hay nhà xuất bản để trả tiền. Nếu họ không chịu trả thì giao cho tòaán đòi theo pháp luật.
Luật lệ trên chỉ có giá trị trong một hạn 10 năm kể từ ngày phát hành văn hóa phẩm. Trong hạn đó, nếu có thư đòi, bằng cách bảo đảm thì hạn mười năm sẽ bắt đầu ltừ ngày gửi thư bảo đảm.
Nếu vì một lẽ gì mà việc đòi tiền các nhà in, nhà sản xuất hay nhà xuất bản không có kết quả, thì số tiền mua những văn hóa phẩm không nộp hay nộp thiếu sẽ do các cơ quan nói ở điều thứ 12 chịu, tùy theo số bản đã nhận được.
Điều 14. – Những người nào cố ý không nộp những văn hóa phẩm do mình in, sản xuất hay xuất bản thì phải phạt từ 100 đến 500 đồng. Nếu tái phạm thì phải phạt từ 500 đồng đến 2.000 đồng. Ngoài số tiền phạt lại phải trả số tiền mua những bản không nộp hay nộp thiếu.
Ngoài ra, những bản văn hóa phẩm đem bán, phát không hay cho thuê trái phép có thể bị tịch thu.
Việc thi hành những hình phạt kể trên có giá trị trong một hạn 3 năm kể từ ngày tuyên bố bản án.
Điều 15. – Luật lệ Lưu chiểu văn hóa phẩm không liên can gì đến các luật lệ khác về báo chí (kiểm duyệt, tuyên truyền).
Ngoài những bản đã nộp ở sở Lưu chiểu văn hóa phẩm sách và báo chí vẫn phải theo luật lệ nộp Tòa án, sở Kiểm duyệt, Tuyên truyền, ty Liêm phóng v.v…
Điều 16. – Những người đứng khai, tác-giả, nhà in, nhà sản xuất, nhà xuất-bản hay những người kế quyền, có quyền đến sở Lưu chiểu văn hóa phẩm hỏi xem, xin chép lại những tờ khai đã nộp theo điều 9 và 11.
Điều 17. – Việc tổ chức các sở Lưu chiểu văn hóa-phẩm sẽ do Bộ trưởng bộ Quốc gia Giáo dịch ấn định.
Điều 18. – Những thể lệ lưu chiểu văn hóa phẩm đã thi hành trước sắc lệnh này đều bãi bỏ.
Điều 19. – Bộ trưởng bộ Tư pháp, bộ Công chính và Giao thông và bộ Quốc gia Giáo dục chịu thi hành sắc lệnh này.
|
| TM. CHÍNH PHỦ LÂM THỜI |
Săc lệnh số 18-SL về đặt thể lệ lưu chiểu văn hóa phẩm trong nước Việt nam do Chính Phủ Lâm Thời ban hành.
- Số hiệu: 18-SL
- Loại văn bản: Sắc lệnh
- Ngày ban hành: 31/01/1964
- Nơi ban hành: Chính phủ
- Người ký: Hồ Chí Minh
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 15/02/1964
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
