Sắc lệnh số 10/SL do Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ban hành quy định về chế độ khai thác các mỏ trên toàn lãnh thổ, nhằm thiết lập trật tự quản lý tài nguyên khoáng sản quốc gia và bảo vệ quyền lợi của đất nước trong tình hình mới.
Phạm vi và đối tượng áp dụng: Sắc lệnh áp dụng đối với mọi hoạt động tìm kiếm, thăm dò, khai thác và chuyển nhượng khoáng quyền liên quan đến các mỏ khoáng sản tại Việt Nam. Đối tượng áp dụng bao gồm các cá nhân có quốc tịch Việt Nam, các công ty kinh doanh được thành lập hợp pháp theo luật pháp Việt Nam, cùng các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền trong lĩnh vực kinh tế, tài chính và tư pháp.
Nguyên tắc chung về khoáng quyền và điều kiện tiên quyết
- Mọi hoạt động liên quan đến khoáng quyền (bao gồm tìm kiếm, khai thác, chuyển nhượng) bắt buộc phải được Chính phủ cho phép theo các điều kiện quy định trong Việt Nam khoáng luật. Không cá nhân hay tổ chức nào được tự ý thực hiện các hoạt động này khi chưa có sự phê duyệt chính thức.
- Quyền khai thác một khu mỏ chỉ được cấp trong một thời hạn nhất định tùy theo từng trường hợp cụ thể. Khi hết thời hạn quy định, khu mỏ phải được hoàn trả lại cho Nhà nước quản lý.
- Để được quyền tìm kiếm và khai thác mỏ, bước đầu tiên tư nhân phải được Chính phủ cấp giấy phép công nhận tư cách có thể được hưởng khoáng quyền về mỏ. Giấy phép này có thời hạn giá trị trong vòng ba năm.
Quy định về hoạt động tìm kiếm mỏ
- Tư nhân muốn tìm kiếm mỏ phải sở hữu giấy phép tìm kiếm, trong đó ghi rõ khu vực tìm kiếm cụ thể. Khu vực tìm kiếm được quy định là một hình vuông có các cạnh hướng theo các hướng Đông, Tây, Nam, Bắc, với chiều dài mỗi cạnh là ba kilômét.
- Giấy phép tìm kiếm mỏ có thời hạn hiệu lực tối đa là ba năm.
- Để tránh tình trạng đầu cơ tài nguyên, mỗi cá nhân hoặc tổ chức không được sở hữu quá năm giấy phép tìm kiếm (không tính các nhượng khu đã xin được cấp phép khai thác).
Điều kiện và thủ tục cấp nhượng khu khai thác mỏ
- Để được hưởng quyền khai thác trong một nhượng khu, tư nhân phải nộp đơn và chứng minh đầy đủ bốn điều kiện cốt lõi bao gồm: là công dân Việt Nam hoặc công ty thành lập hợp pháp theo đúng luật lệ Việt Nam về kinh doanh; có giấy phép tìm kiếm tại chính khu mỏ xin nhượng khu; đã tiến hành thăm dò thử nghiệm chứng minh mỏ có trữ lượng khoáng chất đáng khai thác; và có đủ năng lực tài chính cũng như chuyên môn kỹ thuật để thực hiện khai thác.
- Chính phủ giữ toàn quyền quyết định việc chấp thuận hoặc bác bỏ đơn xin nhượng khu. Nếu được chấp thuận, Chính phủ sẽ ban hành một sắc lệnh cấp nhượng khu kèm theo điều lệ quy định chi tiết các điều kiện kèm theo.
- Trường hợp đơn bị bác bỏ do thiếu năng lực tài chính hoặc chuyên môn nhưng người nộp đơn đã có công tìm kiếm và thăm dò, tư nhân đó có thể được xem xét thưởng một khoản tiền xứng đáng.
- Nhượng khu khai thác được giới hạn theo hình chữ nhật, các cạnh hướng theo các hướng Đông, Tây, Nam, Bắc với diện tích tối đa không vượt quá 400 héc-ta. Thời hạn khai thác do sắc lệnh cấp nhượng khu quy định cụ thể cho từng trường hợp.
- Mỗi đối tượng không được sở hữu quá năm nhượng khu hoặc chung quyền lợi trong quá mười nhượng khu.
Quyền hạn của Nhà nước và nghĩa vụ của chủ khoáng quyền
- Vì lợi ích chung của quốc gia, Chính phủ có quyền thu hồi một phần hoặc toàn bộ nhượng khu đã cấp trước khi hết hạn. Việc bồi thường thiệt hại khi thu hồi sẽ được xem xét tùy theo từng trường hợp cụ thể.
- Mọi giao dịch chuyển nhượng khoáng quyền giữa các bên bắt buộc phải có sự cho phép trước từ phía Chính phủ.
- Chủ khoáng quyền có nghĩa vụ phải hoạt động khai thác một cách đầy đủ và liên tục. Nếu không hoạt động hiệu quả, giấy phép khai thác có thể bị thu hồi.
- Bên cạnh các nghĩa vụ thuế thông thường, các nhượng khu khai thác mỏ phải nộp thêm thuế diện tích và thuế sản xuất cho ngân sách nhà nước.
- Hoạt động khai khoáng phải chịu sự kiểm soát chặt chẽ từ cơ quan nhà nước về mặt chuyên môn (để bảo vệ tài nguyên mỏ và an toàn lao động cho công nhân) cũng như về mặt kinh tế (để đảm bảo phù hợp với kế hoạch kinh tế chung của Chính phủ).
- Bất kỳ hành vi vi phạm các điều khoản của Sắc lệnh này hoặc các quy định của Việt Nam khoáng luật đều sẽ bị truất quyền khai thác và có thể bị truy tố trước pháp luật.
Điều khoản thi hành và chuyển tiếp
- Các chi tiết cụ thể về chế độ khai thác mỏ sẽ được quy định chi tiết trong Việt Nam khoáng luật. Trong thời gian đạo luật này chưa được ban hành, tất cả các thể lệ trước đây trái với Sắc lệnh này đều bị bãi bỏ.
- Tất cả các khoáng quyền đã được cấp trước khi Sắc lệnh này ban hành đều phải tiến hành xét lại theo các quy định mới. Những trường hợp đặc biệt phát sinh trong quá trình xét lại sẽ do một sắc lệnh riêng biệt quyết định.
- Các Bộ trưởng Bộ Kinh tế, Bộ Tài chính và Bộ Tư pháp chịu trách nhiệm thi hành Sắc lệnh này. Sắc lệnh được ký ban hành bởi Chủ tịch nước Hồ Chí Minh.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
SẮC LỆNH
CỦA CHỦ TỊCH NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ SỐ 10/SL NGÀY 22 THÁNG 1 NĂM 1950
CHỦ TỊCH NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ HỒ CHÍ MINH
Chiểu Sắc lệnh số 9-SL ngày 20 tháng 11 năm 1950 quy định chế độ hầm mỏ;
Chiểu đề nghị của Bộ trưởng Bộ Kinh tế;
Xét nhu cầu hiện thời;
Theo quyết nghị của Hội đồng Chính phủ và sau khi Ban thường trực Quốc hội thoả thuận,
RA SẮC LỆNH:
Điều 1: Nay quy định chế độ khai thác mỏ như sau:
Điều 2: Không ai được hưởng khoáng quyền về mỏ (tìm kiếm, khai thác, chuyển nhượng...) nếu không được Chính phủ cho phép theo các điều kiện ấn định trong Việt Nam khoáng luật.
Điều 3: Quyền khai một khu mỏ chỉ được hưởng trong một thời gian hạn định tuỳ theo trường hợp. Hết hạn, khu mỏ trả lại Nhà nước.
Điều 4: Muốn được quyền tìm kiếm và khai thác mỏ trước hết phải được Chính phủ cấp giấy phép nhận cho tư cách có thể được hưởng khoáng quyền về mỏ.
Giấy phép này có giá trị trong ba năm.
Điều 5: Muốn tìm kiếm mỏ, tư nhân phải có giấy phép tìm kiếm, trong đó ghi rõ khu vực tìm kiếm. Khu vực tìm kiếm là một hình vuông, cạnh hướng theo Đông, Tây, Nam, Bắc, mỗi cạnh dài ba kilômét. Giấy phép này có giá trị trong ba năm.
Không ai được hưởng quá năm giấy phép tìm kiếm không kể các nhượng khu đã xin được nói ở Điều 6.
Điều 6: Muốn được hưởng quyền khai thác trong một nhượng khu, tư nhân phải nộp đơn và chứng minh những điều kiện dưới đây:
1- Là người có quốc tịch Việt Nam hay là một công ty thành lập chính thức theo đúng luật lệ Việt Nam về việc thành lập các công ty kinh doanh;
2- Có giấy phép tìm kiếm mỏ trong khu mỏ xin lập thành nhượng khu;
3- Đã làm công việc thăm thử trong khu mỏ đó và chứng minh rằng khu đó có một số lượng khoáng chất đáng khai thác;
4- Có phương tiện về tài chính và chuyên môn để thực hiện việc khai thác ấy.
Điều 7: Chính phủ giữ toàn quyền định đoạt khi xét đơn. Trong trường hợp được chấp nhận, sẽ có một sắc lệnh cấp nhượng khu, kèm theo một quyển điều lệ ghi các điều kiện về việc cấp nhượng khu.
Trong trường hợp đơn bị bác, vì xét thiếu phương tiện tài chính và chuyên môn nói ở điều 6 và nếu xét có công trong việc tìm kiếm thì tư nhân có thể được hưởng một số tiền thưởng.
Điều 8: Quyền khai thác trong một nhượng khu chỉ được hưởng trong một thời gian hạn định tuỳ theo trường hợp, do sắc lệnh cấp nhượng khu ấn định.
Nhượng khu hình chữ nhật, các cạnh hướng theo Đông, Tây, Nam, Bắc và diện tích tối đa là 400 héc-ta.
Điều 9: Không ai được hưởng quá năm nhượng khu hay chung quyền lợi trong quá mười nhượng khu.
Điều 10: Trước khi hết hạn khai khoáng nhượng khu Chính phủ có quyền, vì lợi ích chung của Nhà nước, lấy lại một phần hay toàn thể nhượng khu đã cấp. Chính phủ có thể bồi thường hay không tuỳ theo trường hợp.
Điều 11: Mọi sự chuyển nhượng khoáng quyền phải được Chính phủ cho phép trước.
Điều 12: Tư nhân được hưởng khoáng quyền phải hoạt động một cách đầy đủ, nếu không, giấy phép có thể bị thu hồi.
Điều 13: Ngoài các thứ thuế khác, các nhượng khu phải chịu thuế diện tích và thuế sản xuất.
Điều 14: Việc khai khoáng phải chịu sự kiểm soát về phương diện chuyên môn để bảo vệ mỏ và công nhân, cũng như về phương diện kinh tế để phù hợp với kế hoạch kinh tế của Chính phủ.
Điều 15: Những chủ khoáng quyền không theo đúng các điều khoản của sắc lệnh này cùng các thể lệ ấn định trong Việt Nam khoáng luật sẽ bị truất quyền và có thể bị truy tố trước Toà án.
Điều 16: Chi tiết chế độ khai thác mỏ sẽ được quy định trong Việt Nam khoáng luật. Trong khi Việt Nam khoáng luật chưa ban bố, mọi thể lệ trái với sắc lệnh này đều bãi bỏ.
Điều 17: Tất cả các kháng quyền đã có từ trước đều phải xét lại theo thể lệ mới.
Trong khi xét lại, có thể có những trường hợp đặc biệt.
Mỗi trường hợp đặc biệt sẽ do một sắc lệnh quyết định.
Điều 18: Các ông Bộ trưởng Bộ kinh tế, Bộ Tài chính, Bộ Tư pháp chiểu Sắc lệnh thi hành.
|
| Hồ Chí Minh (Đã ký)
|
Sắc lệnh số 10/SL về việc quy định chế độ khai thác các mỏ do Chủ tịch nước Việt nam Dân chủ cộng hoà ban hành
- Số hiệu: 10/SL
- Loại văn bản: Sắc lệnh
- Ngày ban hành: 22/01/1950
- Nơi ban hành: Chủ tịch nước
- Người ký: Hồ Chí Minh
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Dữ liệu đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 06/02/1950
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
