TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG TỈNH QUẢNG NINH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 99/2025/HS-ST Ngày: 04/4/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đinh Văn Hằng
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Phạm Thu Hà
Bà Bùi Thị Kim Dung
Thư ký phiên tòa: Ông Trịnh Đức Tâm, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên toà: Ông Phạm Vũ - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 81/2025/TLST-HS ngày 13/3/2025, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 74/2025/QĐXXST-HS ngày 20/3/2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Đức A; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 03/02/2001, tại Quảng Ninh; Nơi thường trú: Tổ E, khu B, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông: Trần Văn P, sinh năm 1978; Con bà: Nguyễn Thị B, sinh năm 1979; Vợ con: chưa có; Tiền án: không; Tiền sự: không; Bị cáo bị bắt quả tang và tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/11/2024, hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Trần Văn S (sinh năm 1992; Địa chỉ: Tổ A, khu G, phường B, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh), có mặt.
- Người làm chứng: Anh Nguyễn Đức K (sinh năm 1994; Địa chỉ: Tổ E, khu A, phường H, TP ., tỉnh Quảng Ninh), vắng mặt; Anh Lê Minh T (sinh năm 1995; Địa chỉ: Tổ D, khu G, phường B, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh), vắng mặt; Anh Trần Văn H (sinh năm 1992; Địa chỉ: Tổ F, khu F, phường B, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh), vắng mặt.
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng đầu tháng 10/2024, thông qua mạng xã hội, Trần Đức A biết ma túy “Tobaco” có chứa các chất ma túy mới và cấm mua bán. Do thấy nhiều người sử dụng nên Đức A nảy sinh ý định mua ma tuý "Tobaco” về bán kiếm lời. Thông mạng xã hội Telegram, ngày 06/10/2024, Đức A mua được 01 Kilogam ma túy “Tobaco” của tài khoản “Queen” với số tiền 8.050.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, Đức A mang về chia nhỏ thành 150 túi để bán với giá từ 70.000 đồng đến 100.000 đồng/túi. Từ tháng 11/2024, Đức A đã bán ma túy cho nhiều người, trong đó bán ma túy cho Trần Văn H (sinh năm 1992, trú tổ F, khu F, phường B, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh), cụ thể như sau.
- Lần thứ nhất: Khoảng 19 giờ ngày 09/11/2024, H gọi điện thoại cho Đức A qua ứng dụng Messenger hỏi mua 02 túi ma túy “Tobaco". Đức A báo giá 70.000 đồng/1 túi và hẹn giao dịch tại bến cá C thuộc phường B, thành phố H. Sau đó Đức A đến điểm hẹn bán cho H 02 túi ma túy "Tobaco", H trả tiền mặt cho Đức A.
- Lần thứ hai: Khoảng 19 giờ ngày 12/11/2024, H tiếp tục gọi điện thoại qua M hỏi mua 01 túi ma túy "Tobaco", Đức A báo giá 100.000 đồng/túi. H đồng ý và hẹn giao dịch tại bến cá Cái Dăm. Tại đây, Đức A bán cho H 01 túi ma túy "Tobaco", H trả tiền mặt cho Đức A.
Đến trưa ngày 13/11/2024, Đức A tiếp tục liên hệ đặt mua của tài khoản "Queen" 01 (một) Kilogam ma túy T1 và thống nhất gửi ma túy cho Đức A qua xe khách “Tuyển Đoạt" chạy tuyến Hà Nội - M. Khoảng 23 giờ 30 phút đến 00 giờ 00 cùng ngày xe đến cổng T, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh giao hàng.
Khoảng 19 giờ 50 phút cùng ngày 13/11/2024, Đức A cất giấu 15 túi ma túy “Tobaco” vào túi đeo chéo và 02 túi để trong cốp xe môtô biển số 14AA-120.57 đi đến khu vực đối diện đảo R thuộc phường B, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh để bán khi có người hỏi mua thì bị Công an phát hiện bắt quả tang, thu giữ trong túi đeo chéo màu đen Đức A đeo trên người 15 túi nilon, có khóa kẹp một đầu, bên trong mỗi túi đều chứa thực vật khô, tổng khối lượng là 19,688 gam (Mẫu 1); 01 xe môtô nhãn hiệu Honda Airblade biển số 14AA -120.57; thu bên trong cốp xe môtô 02 túi nilon, có khóa kẹp một đầu, chứa thực vật khô, khối lượng 2,463 gam (Mẫu 2); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu xám, gắn sim thuê bao số 0585256186 và 4.200.000 đồng.
Căn cứ lời khai của Đức A, vào hồi 23 giờ 20 phút ngày 13/11/2024, tại đường Q, đoạn ngã tư L, thành phố H, Cơ quan điều tra phối hợp với Đội Cảnh sát giao thông kiểm tra xe ôtô khách biển số 14F -003.45 của nhà xe Tuyển Đoạt của chị Phùng Thị Đ, thu giữ 01 thùng bìa cát tông màu nâu, bên trong 10 túi nilon chứa chất thực vật khô, tổng khối lượng là 1.010,17 gam (Mẫu 3).
3
Tại bản Kết luận giám định số: 8897/KL - KTHS ngày 16/12/2024 của V Bộ C kết luận: Tìm thấy các chất ma túy MDMB - 4en -PINACA, MDMB - INACA trong các mẫu thực vật (Mẫu 1,2,3) gửi giám định, tổng khối lượng ma túy MDMB - 4en - PINACA là: 15,42 gam (Mười lăm phẩy bốn hai gam). V chưa có mẫu chuẩn định lượng MDMB-INACA nên không xác định được hàm lượng, khối lượng chất này trong các mẫu gửi giám định.
Quá trình điều tra, bị can Trần Đức A khai phù hợp với nội dung trên. Ngoài ra còn khai đã bán ma túy “Tobaco” cho nhiều người không quen biết trên địa bàn thành phố H, liên lạc qua Facebook hoặc Telegram, do sợ bị Công an phát hiện nên Đức A đã xóa hết tin nhắn, chỉ nhớ 02 lần bán cho H. Đức A mua ma túy của người tài khoản tên “Queen”, thanh toán bằng cách nhờ người không quen biết chuyển tiền mua ma túy theo yêu cầu của tài khoản "Queen". Ngày 13/11/2024, sau khi đặt mua ma tuy xong, Đức A đã hủy kết bạn với tài khoản “Queen” trên Telegram để tránh bị phát hiện.
Tại Cơ quan cảnh sát điều tra chị Phùng Thị Đ khai: Tại bến xe G, Hà Nội một người phụ nữ không quen biết làm nghề bốc vác ở bến xe gửi chị Đ 01 thùng bìa các tông bảo người này vừa nhận được từ một người khác yêu cầu gửi về địa chỉ cổng T, thành phố H, số điện thoại 0585.256.xxx.
Vật chứng, tài sản trong vụ án: Phong bì niêm phong số 8897/ KL-KTHS của V Bộ C, 01 (một) điện thoại di động, 01 (một) chiếc xe mô tô Honda Airblade màu đen, biển kiểm soát 14AA-120.57, 01 (một) túi đeo chéo màu đen, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố H chuyển Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hạ Long để quản lý theo quy định; 4.200.000 đồng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H gửi lại Kho bạc nhà nước quản lý theo quy định.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như lời khai tại cơ quan điều tra cũng như lời khai tại phiên tòa hôm nay, về thời gian, địa điểm, vật chứng bị thu giữ.
Hành vi phạm tội của bị cáo còn được chứng minh bằng lời khai của những người làm chứng là các anh Nguyễn Đức K, Lê Minh T, đều có lời khai thể hiện về việc các anh thấy Công an làm nhiệm vụ kiểm tra thu giữ của Đức A 17 túi nilon bên trong chứa thực vật khô, Đức A khai là ma túy “Tobaco” tàng trữ để bán. Ngoài ra các anh còn được chứng kiến việc Công an lập biên bản bắt người phạm tội quả tang cùng với vật chứng thu giữ của bị cáo theo đúng trình tự thủ tục quy định của pháp luật. Anh Trần Văn H có lời khai thể hiện đã mua 02 lần ma túy Tobaco của Đức A vào các ngày 09/11/2024 và 12/11/2024 bằng hình thức trả tiền mặt, sau đó H đã sử dụng hết.
Tại bản cáo trạng số 1944/CT - VKSHL ngày 10/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh truy tố bị cáo Trần Đức A về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
4
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố, đồng thời đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử :
Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Xử phạt Trần Đức A từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 13/11/2024.
Về xử lý vật chứng: Áp dung điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a, b, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Số ma túy hoàn lại sau giám định là vật cấm lưu hành; 01 túi đeo chéo màu đen, đã qua sử dụng dùng vào việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng; nên tịch thu tiêu hủy. 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu xám (kiểu dáng iphone 6 plus), gắn sim số 0585256186 dùng vào việc phạm tội nên tịch thu sung ngân sách Nhà nước. Trả lại 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade màu đỏ đen biển số 14AA -120.57 cho anh Trần Văn S. Truy thu của bị cáo 210.000đồng tiền do bán ma túy mà có. Trả lại bị cáo số tiền 4.200.000 đồng là tiền cá nhân của bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo;
Bị cáo thừa nhận thực hiện hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố và bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không có ý kiến tranh luận với bản luận tội.
Trong lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Về các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra và lời khai của những người làm chứng, bản kết luận giám định số 8897KL-KTHS, ngày 16/12/2024 của V Bộ C, biên bản bắt người phạm tội quả tang được lập vào hồi 20 giờ 15 phút ngày 13/11/2024, vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác thể hiện trong hồ sơ vụ án. Hành vi phạm tội của bị cáo thực hiện là mua ma túy để bán kiếm lời, số ma túy thu giữ của bị cáo được giám định là ma túy; loại: MDMB - 4en -PINACA, MDMB - INACA; tổng khối lượng là: 1032,321 gam (một nghìn không trăm ba mươi hai phẩy ba trăm hai mươi mốt
5
gam). Như vậy, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận bị cáo Trần Đức A phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy" quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Điều 251 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào mua bán trái phép chất 07 năm. ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm.
b) Phạm tội 02 lần trở lên".
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền các chất ma tuý của Nhà nước ta. Bị cáo biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng bất chấp lao vào con đường phạm tội, mục đích bán ma túy kiếm lời. Hành vi phạm tội của bị cáo còn làm mất an ninh trật tự ở địa phương, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Bị cáo là người có nhận thức về pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội thể hiện ý thức coi thường pháp luật. Do vậy, cần xử lý nghiêm đối với bị cáo để cải tạo giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo nên xem xét cho bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[6] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[7] Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a, b, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Số ma túy hoàn lại sau giám định là vật cấm lưu hành; 01 túi đeo chéo màu đen, đã qua sử dụng dùng vào việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng; nên tịch thu tiêu hủy. 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu xám (kiểu dáng iphone 6 plus), gắn sim số 0585256186 dùng vào việc phạm tội nên tịch thu sung ngân sách Nhà nước. Đối với xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade màu đỏ đen biển số 14AA -120.57 mang tên bị cáo, dùng vào việc phạm tội nhưng đã bán lại cho anh Trần Văn S từ trước, anh S không biết bị cáo dùng vào việc phạm tội nên trả lại chiếc xe này cho anh Trần Văn S. Đối với số tiền bán ma túy cho Trần Văn H cần truy thu của bị cáo 210.000đồng sung ngân sách Nhà nước. Số tiền 4.200.000 đồng là tiền cá nhân của bị cáo không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo.
6
[8] Xét những chứng cứ mà Kiểm sát viên dùng để chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo, đã được cơ quan Điều tra thu thập theo đúng thủ tục, trình tự mà Bộ luật tố tụng Hình sự quy định. Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận có thực hiện hành vi như bản cáo trạng của Viện kiểm sát, nên các đề nghị của Kiểm sát viên về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân, mức hình phạt chính, hình phạt bổ sung và xử lý vật chứng đối với bị cáo là có căn cứ, được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Liên quan trong vụ án có đối tượng sử dụng tài khoản Queen trên T2 đã bán ma túy cho bị cáo quá trình điều tra không xác minh được lai lịch, địa chỉ nên không có cơ sở để xử lý.
Đối với Trần Văn H có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Công an thành phố H đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính.
[9] Án phí sơ thẩm và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo và anh Trần Văn S có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
[I]. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Trần Đức A 07 (bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 13/11/2024 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
[II]. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b, c khoản 1, Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a, b, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: số ma túy hoàn lại sau giám định đựng trong phong bì niêm phong số 8897/KL-KTHS ngày 16/12/2024; 01 túi đeo chéo màu đen đã qua sử dụng. Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu xám (kiểu dáng iphone 6 plus), gắn sim số 0585256186. Trả lại 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade màu đỏ đen biển số 14AA -120.57 cho anh Trần Văn S. Truy thu của bị cáo 210.000 đồng sung ngân sách nhà nước. Trả lại bị cáo số tiền 4.200.000 đồng trong phong bì niêm phong số 1509. Tình trạng các vật chứng được thể hiện tại Biên bản giao nhận vật chứng số 165/BB-THA ngày 113/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh và Công an tỉnh Q và Biên bản giao nhận tài sản số 177/2024/BBBG-CQCSĐT ngày 25/11/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố H và Kho bạc Nhà nước tỉnh Q.
[III]. Về án phí và quyền kháng cáo
7
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của UBTV Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; buộc bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Áp dụng khoản 1, 4 Điều 331; Khoản 1 Điều 333 Bộ luật tố tụng Hình sự; báo cho bị cáo, anh Trần Văn S biết có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Đinh Văn Hằng |
Quyết định số 99/2025/HS-ST ngày 04/04/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH về mua bán trái phép chất ma túy
- Số quyết định: 99/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: mua bán trái phép chất ma tuý
