Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 98/2024/QÐST-HNGĐ

Ngày: 12/12/2024.

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

(V/v Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con)

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG

Thành phần giải quyết việc hôn nhân và gia đình gồm có:

  • - Chủ tọa phiên họp: Bà Phạm Thị Mai Hoa - Thẩm phán
  • - Thư ký phiên họp: Ông Lê Quốc Phong - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên họp: Bà Phạm Thị Thùy - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương mở phiên họp công khai giải quyết việc hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số 615/2024/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 11 năm 2024, về việc “Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định mở phiên họp số 556/2024/QÐST-HNGĐ ngày 03 tháng 12 năm 2024, giữa:

  • * Người yêu cầu:
  • Chị Phạm Thúy H, sinh năm 1978, địa chỉ: Số A H, phường C, thành phố H, tỉnh Hải Dương;
  • Anh Nguyễn Viết T, sinh năm 1971,
  • Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Số A H, phường C, thành phố H, tỉnh Hải Dương. Nơi ở hiện nay: Úc (Australia).
  • * Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đồng thời là người được anh T ủy quyền giao, nhận văn bản: Ông Nguyễn Viết T1, sinh năm 1942, địa chỉ: Số B H, phường C, thành phố H, tỉnh Hải Dương.

Chị H, anh T và ông T1 đều đề nghị giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VIỆC HÔN NHÂN VÀ ĐÌNH:

Theo đơn xin ly hôn của chị Phạm Thúy H và anh Nguyễn Viết T, cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thúy H và anh Nguyễn Viết T tự do tìm hiểu, tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường C, thành phố H, tỉnh Hải Dương vào ngày 08/12/1998. Sau khi kết hôn, vợ chồng tổ chức cuộc sống chung hạnh phúc đến tháng 6/2020 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung. Anh chị đã sống ly thân từ tháng 01/2022 cho đến nay. Tháng 11/2022, anh T sang Úc (Australia) sinh sống, từ khi anh T đi nước ngoài vợ chồng chỉ gọi điện để trao đổi tình hình học tập của các con, ngoài ra không có sự quan tâm, chia sẻ trong cuộc sống. Nay anh T xác định vẫn ở lại Úc (Australia) để tiếp tục công việc, không muốn quay về chung sống cùng với chị H nữa. Xác định tình cảm vợ chồng không còn anh chị đã thống nhất ly hôn để cả hai sớm ổn định cuộc sống riêng nên đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương giải quyết cho anh chị được ly hôn với nhau.

- Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung Nguyễn Phương N, sinh ngày 26/9/1999, Nguyễn Phương L, sinh ngày 10/02/2008 và Nguyễn Mỹ H1, sinh ngày 05/4/2010. Hiện nay, cháu N đã trưởng thành anh chị không yêu cầu Tòa án giải quyết, cháu L đã sang Úc (Australia) du học và ở cùng với anh T, cháu H1 đang ở cùng với gia đình anh T tại Việt Nam. Vợ chồng đã thống nhất giao cháu L, cháu H1 cho anh T chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành. Trong thời gian anh T ở nước ngoài anh T nhờ bố đẻ là ông Nguyễn Viết T1, sinh năm 1942, địa chỉ: Số B H, phường C, thành phố H, tỉnh Hải Dương thay anh T chăm sóc, nuôi dưỡng cháu H1, chị H nhất trí. Việc cấp dưỡng tiền nuôi con chung, anh chị tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Anh chị không yêu cầu Toà án giải quyết;

- Về lệ phí dân sự: Anh T tự nguyện chịu toàn bộ lệ phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Viết T1 trình bày:

Ông đã thông báo cho anh Nguyễn Viết T được biết về việc Tòa án thụ lý giải quyết việc ly hôn của vợ chồng anh T, chị H. Anh T xác định giữ nguyên quan điểm tại đơn xin ly hôn, bản tự khai đã gửi về cho Tòa án. Anh T nhờ ông chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Nguyễn Mỹ H1, sinh ngày 05/4/2010 cho đến khi anh T về Việt Nam, ông nhất trí.

Tại phiên họp chị H, anh T và ông T1 đều xin vắng mặt và giữ nguyên quan điểm đã gửi Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương phát biểu quan điểm:

  • - Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Thư ký, các đương sự đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • - Về quan điểm giải quyết việc: Đề nghị Tòa án áp dụng khoản 2 Điều 44 Nghị định 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính Phủ, Điều 55 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn của chị Phạm Thúy H và anh Nguyễn Viết T; Về con chung: Giao cho anh T được chăm sóc, nuôi dưỡng con chung Nguyễn Phương L, sinh ngày 10/02/2008 và Nguyễn Mỹ H1, sinh ngày 05/4/2010 cho đến khi trưởng thành. Cháu L hiện đang ở cùng với anh T tại Úc (Australia), tạm giao cháu Nguyễn Mỹ H1 cho ông Nguyễn Viết T1 (bố đẻ của anh T) nuôi dưỡng trong thời gian anh T đang ở nước ngoài. Chấp nhận sự thỏa thuận của vợ chồng không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung; Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên không giải quyết; Về lệ phí: Anh Nguyễn Viết T tự nguyện chịu 300.000 đồng lệ phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc hôn nhân và gia đình được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương nhận định:

[1]. Về tố tụng: Chị Phạm Thúy H và anh Nguyễn Viết T có đơn đề nghị Tòa án công nhận thuận tình ly hôn. Anh Nguyễn Viết T hiện đang sinh sống tại Úc (Australia), chị Phạm Thúy H có địa chỉ tại thành phố H, tỉnh Hải Dương. Do vậy, việc dân sự yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn của chị H, anh T thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương theo quy định tại khoản 2 Điều 29, điểm b khoản 1 Điều 37, điểm h khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Anh Nguyễn Viết T không trực tiếp tham gia tố tụng tại Tòa án nhưng đã ủy quyền cho ông Nguyễn Viết T1 ở Việt Nam thay mặt anh T giao nộp các tài liệu, gồm: Đơn xin ly hôn, bản tự khai, giấy ủy quyền, đơn xin giải quyết vắng mặt; Đơn trình bày nguyện vọng của cháu L. Các văn bản của anh T đều được xác nhận của Đ tại Úc (Australia). Do vậy, các tài liệu này là hợp pháp.

Chị H, anh T và ông T1 đều đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành mở phiên họp giải quyết việc dân sự vắng mặt các đương sự theo thủ tục chung.

[2]. Về nội dung:

[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thúy H và anh Nguyễn Viết T được tự do tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường C, thành phố H, tỉnh Hải Dương vào ngày 08/12/1998 là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng tổ chức cuộc sống chung hạnh phúc đến tháng 6/2020 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 01/2022 cho đến nay. Anh T đang sinh sống tại Úc (Australia) và xác định không còn muốn quay về chung sống với chị H. Chị H xác định từ khi anh T đi nước ngoài đã không còn quan tâm gì đến chị. Vợ chồng đã thống nhất cùng làm đơn xin ly hôn để sớm ổn định cuộc sống riêng. Xét thấy, tình trạng hôn nhân giữa chị H, anh T đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn của chị H và anh T là phù hợp với quy định tại Điều 55 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

[2.2]. Về con chung: Vợ chồng chị H và anh T có 03 con chung là cháu Nguyễn Phương N, sinh ngày 26/9/1999; Nguyễn Phương L, sinh ngày 10/2/2008 và Nguyễn Mỹ H1, sinh ngày 05/4/2010. Hiện nay, cháu N đã trưởng thành chị H và anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết, cháu L hiện đang học tại Úc (Australia) du học và ở cùng với anh T, cháu H1 đang ở cùng với gia đình anh T tại Việt Nam. Chị H và anh T thống nhất giao cháu L, cháu H1 cho anh T chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành.

Xét thấy, cháu L đang có cuộc sống ổn định cùng anh T tại Úc (Australia), cháu H1 đang được gia đình anh T tại Việt Nam chăm sóc đảm bảo phát triển về mọi mặt. Các con chung đều có nguyện vọng được ở cùng bố nên chấp nhận thỏa thuận của vợ chồng, giao anh T được chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Nguyễn Phương L, sinh ngày 10/2/2008 và Nguyễn Mỹ H1, sinh ngày 05/4/2010 cho đến khi trưởng thành. Anh T nhờ ông Nguyễn Viết T1 chăm sóc cháu H1 trong thời gian anh đang ở nước ngoài. Do vậy, tạm giao cháu H1 cho ông Nguyễn Viết T1 (bố đẻ của anh T) chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi anh T về Việt Nam trực tiếp nuôi dưỡng. Chấp nhận sự tự nguyện của anh T không yêu cầu chị H cấp dưỡng tiền nuôi dưỡng con chung.

[2.3]. Về tài sản chung, nợ chung: Chị H và anh T không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.

[3]. Về lệ phí ly hôn sơ thẩm: Anh Nguyễn Viết T tự nguyện chịu 300.000 đồng lệ phí ly hôn sơ thẩm.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 55, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 2 Điều 29, điểm b khoản 1 Điều 37, điểm h khoản 2 Điều 39, Điều 149, Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật Phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Phạm Thúy H và anh Nguyễn Viết T.
  2. Về con chung: Giao cho anh Nguyễn Viết T được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng 02 con chung Nguyễn Phương L, sinh ngày 10/02/2008 và Nguyễn Mỹ H1, sinh ngày 05/4/2010 thời gian từ tháng 12/2024 cho đến khi con chung tròn 18 tuổi. Chấp nhận sự tự nguyện của anh T không yêu cầu chị H cấp dưỡng tiền nuôi dưỡng con chung.

Tạm giao cháu Nguyễn Mỹ H1 cho ông Nguyễn Viết T1 chăm sóc, nuôi dưỡng trong thời gian anh T không có mặt tại Việt Nam.

Chị Phạm Thúy H được quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở.

  1. Về lệ phí ly hôn sơ thẩm: Anh Nguyễn Viết T tự nguyện chịu lệ phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng, được đối trừ số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp theo Biên lai thu số 0005346 ngày 22 tháng 11 năm 2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương (Ông T1 đã thay anh T thực hiện xong).
  2. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm./.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND tỉnh Hải Dương;
  • - Cục THADS tỉnh Hải Dương;
  • - UBND phường Cẩm Thượng, TP. Hải Dương (để ghi vào sổ hộ tịch);
  • - Lưu hồ sơ, VP, Tòa GĐ&NCTN, Tòa HC.

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP

Phạm Thị Mai Hoa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Quyết định số 98/2024/QÐST-HNGĐ ngày 12/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con

  • Số quyết định: 98/2024/QÐST-HNGĐ
  • Quan hệ pháp luật: Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Thúy H và Nguyễn Viết T thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con chung
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger