Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 98/2024/DS - PT

Ngày 24 tháng 7 năm 2024

“V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Duy Sơn và ông Nguyễn Văn Nghĩa

- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Phương Thao - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa:

Bà Lê Thị Huệ - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 22 và ngày 24 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 10/2024/TLPT-DS ngày 01 tháng 02 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số: 13/2023/DS-ST ngày 31 tháng 7 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện Y bị kháng cáo:

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 59/2024/QĐXXPT – DS ngày 01 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Cụ Trịnh Thị B, sinh năm 1932; nơi cư trú: Thôn xóm Chùa, xã Trung Kiên, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc “vắng mặt”.

Người đại diện theo ủy quyền của cụ B: Bà Lê Thị Thu H, sinh năm 1982; nơi cư trú: Đường L, phường L, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc “có mặt”.

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Đình H1, sinh năm 1977; nơi cư trú: Thôn C xóm C, xã T, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc “có mặt”.

Người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Đình H1: Ông Vũ Quốc H2, sinh năm 1985; địa chỉ: Thôn L, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội (Giấy ủy quyền ngày 24/4/2024) “có mặt”.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Nguyễn Đình H1: Ông Trần Quang V - Luật sư Văn phòng L2, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh V “có mặt khi xét xử, vắng mặt khi tuyên án”.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • - Bà Nguyễn Thị H3, sinh năm 1967 “có mặt”.
  • - Ông Nguyễn Hữu V1, sinh năm 1967 “vắng mặt”.
  • - Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1963 “vắng mặt”.
  • - Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1968 “vắng mặt”.
  • - Anh Nguyễn Hữu V2, sinh năm 1977 “vắng mặt”.
  • - Bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1954 “vắng mặt”.
  • - Bà Nguyễn Thị V3, sinh năm 1958 “vắng mặt”.
  • - Chị Nguyễn Thị T1, sinh năm 1959 “vắng mặt”.
  • - Ông Nguyễn Hữu H4, sinh năm 1962 “vắng mặt”.
  • - Ông Nguyễn Hữu V4, sinh năm 1964 “vắng mặt”.
  • - Ông Nguyễn Hữu T2, sinh năm 1971 “vắng mặt”.
  • - Anh Nguyễn Hữu L1, sinh năm 1991 “vắng mặt”.
  • - Chị Phùng Thị T3, sinh năm 1978 “vắng mặt”.
  • Đều cư trú tại: Thôn C xóm C, xã T, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc.
  • Người đại diện theo ủy quyền của bà L, bà T, ông V2, bà X, bà V3, bà T1, ông V4, ông V1, ông T2 và anh L1: Bà Nguyễn Thị H3, sinh năm 1967; nơi cư trú: Thôn C xóm C, xã T, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phú (giấy ủy quyền ngày 27/10/2020) “có mặt”.
  • - Bà Nguyễn Thị T4, sinh năm 1976; nơi cư trú: Thôn A, Đ, huyện K, tỉnh Kon Tum “vắng mặt”.
  • - Bà Nguyễn Thị H5, sinh năm 1980; nơi cư trú: Số nhà A, đường T, phường T, quận T, thành phố Hồ Chí Minh “vắng mặt”.
  • Người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị T4 và bà Nguyễn Thị H5: Ông Nguyễn Đình H1, sinh năm 1977; nơi cư trú: Thôn C, xã T, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc (Giấy ủy quyền ngày 13/5/2024) “có mặt”.
  • - Ông Nguyễn Đình H6, sinh năm 1981; nơi cư trú: Thôn G, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa “vắng mặt”.
  • - Ông Nguyễn Đình M, sinh năm 1983; nơiiệnHieenNơi Nơi cư trú: Bản Ho Cang, xã L, thị xã M, tỉnh Điện Biên “vắng mặt”.
  • Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Nguyễn Đình M và ông Nguyễn Đình H6: Ông Trần Quang V – Luật sư Văn phòng L2, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh V “có mặt khi xét xử, vắng mặt khi tuyên án”.
  • Người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Đình M và ông Nguyễn Đình H6: Ông Vũ Quốc H2, sinh năm 1985; địa chỉ: Thôn L, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội (Giấy ủy quyền ngày 13/5/2024) “có mặt”.

4. Người kháng cáo: Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Đình M và ông Nguyễn Đình H6.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn là cụ Trịch Thị B1 và người đại diện theo ủy quyền của cụ B1 là bà Lê Thị Thu H thống nhất trình bày như sau:

Cụ Trịnh Thị B và cụ Nguyễn Hữu Q kết hôn với nhau từ khi cụ B 18 tuổi, do thời gian quá lâu nên cụ B không nhớ chính xác cụ B kết hôn với cụ Q vào năm nào. Cụ B và cụ Quyết sinh được 02 người con gái là bà Nguyễn Thị L và bà Nguyễn Thị T, vợ chồng cụ B có nhận ông Nguyễn Hữu V2 làm con nuôi. Hiện tại, cụ B đang ở cùng với ông V2. Cụ Q chết ngày 04/3/2013, trước khi chết cụ Q không để lại di chúc.

Nguồn gốc, quá trình sử dụng thửa đất ao số 211, tờ bản đồ số 05, diện tích 545m² tại thôn C xóm C, xã T, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc (gọi tắt là thửa 211) như sau:

Bố mẹ cụ Q là cụ cố Nguyễn Hữu T5 và cụ cố Nguyễn Thị B2, vợ chồng cụ B được bố mẹ cụ Q cho thửa đất ao số 211 từ trước năm 1945. Cụ Nguyễn Hữu X1 là em trai của cụ Q và là bố đẻ của ông Nguyễn Hữu V1 chồng bà Nguyễn Thị H3. Do hoàn cảnh gia đình cụ X1 đông con nên vợ chồng cụ B đã cho vợ chồng cụ X1 toàn bộ thửa đất ao số 211. Vì thời gian quá lâu nên cụ B không nhớ cho vợ chồng cụ X1 thửa đất 211 chính xác vào năm nào nhưng cách đây khoảng trên dưới 40 năm. Liền kề với thửa đất 211 là thửa đất 220, tờ bản đồ số 5, diện tích 648m² của nhà cụ Nguyễn Đình T6 (gọi tắt là thửa 220); phía trước mặt tiền thửa đất 211 là thửa đất 222 giáp ranh với đường trục hiện nay, tờ bản đồ số 5, diện tích 240m² của nhà cụ Nguyễn Đình T6 (gọi tắt là thửa 222). Liền kề với thửa đất 211 là thửa đất 221, tờ bản đồ số 5, diện tích 576m² của nhà cụ Nguyễn Hữu X1 (gọi tắt là thửa 221). Do thửa đất 211 chủ yếu là thùng vũng, ao sâu mênh mông là nước nên đường để đi vào thửa đất 211 là một bờ ao nhỏ. Bờ ao nhỏ này nằm ở vị trí đất giáp ranh giữa thửa đất 222 với thửa đất 211. Sau khi được vợ chồng cụ B cho đất, hàng năm vợ chồng cụ X1 sử dụng thửa đất 211 để thả cá. Năm 1988, ông V1 kết hôn với bà H3. Năm 1989, vợ chồng cụ X1 chia thửa đất 211 cho 02 người con trai là ông Nguyễn Hữu H4 và ông Nguyễn Hữu V1 để làm nhà tách ra ở riêng. Phần đất của ông H4 được chia nằm ở vị trí phía trong liền kề giáp đất nhà ông H4 bây giờ đang sử dụng, phần đất của ông V1 được chia nằm ở vị trí giáp ranh với thửa đất 222.

Sau khi được chia đất, vợ chồng ông V1 bà H3 đã đổ đất lấp ao, san nền chạy dọc từ đường trục thôn đi qua thửa đất 222 rồi đi sâu vào thửa đất 221 để vừa làm đường đi vừa làm nhà ở. Vợ chồng ông V1, bà H3 đổ đất lấp ao kéo dài từ khoảng cuối năm 1989 đến cuối năm 1990 thì gần như lấp ao san nền xong. Sau khi có mặt bằng, vợ chồng bà H3 ông V1 tiến hành xây ngôi nhà cấp bốn 3 gian như hiện nay để ở, trồng cây cối lâu năm phân định ranh giới đất rõ ràng và sống ổn định, công khai liên tục từ cuối năm 1990 đến năm 2015 thì thấy vợ chồng anh Nguyễn Đình H1 là con trai cụ T6 phá bỏ hàng rào cây cối phân định ranh giới giữa thửa đất 220 và 221 để xây tường bao loan và xây ngôi nhà cấp 4 lợp polôximăng sang phần đất vợ chồng bà H3 ông V1 đang sử dụng dẫn đến hai bên xảy ra tranh chấp. Sau khi xảy ra tranh chấp với nhà ông H1, cụ B mới biết phần đất vợ chồng bà H3 đang sử dụng tại thửa đất 222, xã T đã hợp thức cho nhà cụ T6. Năm 2001, nhà cụ T6 được Nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng cho cả diện tích thửa đất 222 trong đó có phần diện tích đất gia đình bà H3 đang sử dụng.

Theo hồ sơ địa chính đang lưu trữ tại xã T, thửa đất 211 mặc dù đứng tên cụ Q nhưng trên thực tế, vợ chồng bà H3, ông V1 và gia đình nhà ông H4 đã sử dụng ổn định thửa đất trên từ những năm 1989. Đến nay, thửa đất 211 chưa được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định.

Tuy thửa đất 211 có nguồn gốc là đất của vợ chồng cụ B như quá trình sử dụng, vợ chồng bà H3 đã bỏ ra rất nhiều công sức để tôn tạo, duy trì thì nó mới được bằng phẳng đẹp như ngày hôm nay. Thửa đất 221, vợ chồng cụ B đã cho vợ chồng cụ X1 sau đó vợ chồng cụ X1 chia cho vợ chồng ông V1 và gia đình ông H4. Thời điểm hiện tại, cụ B đã cao tuổi, sức khỏe yếu nên cụ B vẫn giữ nguyên ý trí tặng cho vợ chồng bà H3 phần diện tích hiện nay vợ chồng bà H3 đang sử dụng tại thửa đất 211 và đề nghị Tòa án ghi nhận nguyện vọng trên của cụ B.

Đối với phần diện tích thửa đất 222, nằm giáp ranh liền kề với mặt tiền thửa đất 211 hiện nay vợ chồng anh Nguyễn Đình H1 là con trai của vợ chồng cụ Nguyễn Đình T6 đang xây dựng ngôi nhà cấp 4 lợp tấm polôximăng (gọi tắt là đất đang tranh chấp). Cụ B xác định, phần đất này là đất của vợ chồng bà H3 ông V1 đã bỏ công sức ra tôn tạo, duy trì và sử dụng ổn định, công khai liên tục từ những năm 1989 đến năm 2015 không xảy ra tranh chấp gì. Thời điểm, vợ chồng bà H3 bỏ công sức ra tôn tạo, duy trì và sử dụng phần đất này, vợ chồng cụ T6 vẫn còn sống, các thành viên trong gia đình cụ T6 vẫn đang cùng nhau sinh sống trên thửa đất 220 giáp ranh thửa liền kề với thửa đất 221nhưng không ai có ý kiến phản đối gì. Năm 2001, thửa đất 222 được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định. Thay vì cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người trực tiếp cải tạo đất và đang sử dụng ổn định đối với phần đất đang tranh chấp là vợ chồng bà H3, xã T lại làm thủ tục trình Ủy ban nhân dân huyện Y cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng phần đất đang tranh chấp cho gia đình cụ T6 tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số R 622413. Xét thấy, Ủy ban nhân dân huyện Y cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng phần đất đang tranh chấp cho gia đình cụ T6 ở trên là không đúng và không phù hợp với quá trình sử dụng đất trên thực tế.

Hiện tại phần đất đang tranh chấp đang là lối đi duy nhất vào thửa đất 211 của gia đình ông V1, bà H3. Do vậy, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng phần đất đang tranh chấp cho gia đình cụ T6 là gây khó khăn cho gia đình ông V1 bà H3 trong việc đi lại, làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của gia đình bà H3, ông V1 nên cụ B đề nghị Tòa án kiến nghị với Ủy ban nhân dân huyện Y thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số R 622413 đối với thửa đất 224 (222) của hộ cụ Nguyễn Đình T6 để điều chỉnh lại diện tích đất cho phù hợp với thực tế sử dụng đất.

Tại đơn khởi kiện, cụ B yêu cầu Tòa án buộc anh H1 và chị T3 phải tháo dỡ toàn bộ phần bờ tường xây bao loan lấn sang thửa đất 211 trả lại cho cụ B 30m² đất đã lấn chiếm và buộc buộc anh H1 và chị T3 phải tháo dỡ toàn bộ ngôi nhà cấp 4 xây dựng trên phần đất đang tranh chấp chắn lối đi lại của gia đình bà H3.

Tại phiên tòa, cụ B xin rút một phần nội dung yêu cầu khởi kiện về việc buộc anh H1 phải tháo dỡ toàn bộ bờ tường rào xây bao loan phân định ranh giới giữa thửa đất 211 và thửa đất 220 lấn sang thửa đất 211 nhà cụ B trả lại cho cụ B 30m² đất lấn chiếm.

Căn cứ vào kết quả đo đạc kiểm tra hiện trạng đất của Công ty TNHH Đ đo vẽ vào ngày 09/7/2019 thì phần diện tích anh H1 xây ngôi nhà cấp 4 trên phần đất đang tranh chấp tại thửa đất 222 là 40,7m² nên cụ B đề nghị Tòa án lấy kết quả đo vẽ ngày 09/7/2019 của Công ty TNHH Đ để giải quyết.

Về chi phí tố tụng: Tại phiên tòa sơ thẩm, cụ B tự nguyện chịu toàn bộ chi phí tố tụng về việc thẩm định, định giá tài sản.

Bị đơn ông Nguyễn Đình H1 trình bày như sau:

Bố mẹ ông là cụ Nguyễn Đình T6 và cụ Nguyễn Thị T7, lúc còn sống bố mẹ ông có tạo lập được 02 thửa đất số 220 và 222 giáp ranh liền kề với thửa đất 211 của cụ B. Cụ T7 ông chết vào năm 2005, cụ T7 bà chết vào năm 2007. Vợ chồng cụ T7 sinh được 05 người con gồm bà Nguyễn Thị T4, ông Nguyễn Đình H1, bà Nguyễn Thị H5, ông Nguyễn Đình H6 và ông Nguyễn Đình M. Trước khi chết, bố mẹ ông không ai để lại di chúc gì, thửa đất 220, 222 gia đình ông chưa chia thừa kế. Do ông là con trai cả nên gia đình ông đã giao cho vợ chồng ông quản lý và sử dụng 02 thửa đất 220, 222 của bố mẹ. Trong quá trình sử dụng thửa đất 220, 222 vợ chồng ông đã đổ đất san nền phần đất ao thửa 222 liền kề mặt tiền với thửa đất 220. Năm 2001, bố mẹ ông được Nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với 02 thửa đất 220, 222 đứng tên hộ Nguyễn Đình T6. Cuối năm 2015, vợ chồng ông xây dựng bờ tường rào bao loan để phân định ranh giới giữa thửa đất 211 và thửa đất 220 của gia đình nhà ông cùng 01 ngôi nhà cấp 4 tạm lợp pơlôximăng trên phần diện tích đang trang chấp đúng như lời trình bày trên của cụ B và bà H để cho em trai ông về sử dụng.

Ông H1 thừa nhận, phần đất đang tranh chấp trước khi ông xây nhà sử dụng là đất ao sâu, thùng vũng. Trước năm 2015, phần đất đang tranh chấp, vợ chồng bà H3, ông V1 là người đổ đất lấp ao và sử dụng. Trước khi ông xây bờ tường bao loan phân định ranh giới giữa thửa đất 211 và thửa đất 220, giữa gia đình nhà ông và gia đình bà H3 đã xảy ra tranh chấp với nhau về mốc giới đất từ năm 2005 đến năm 2007. Từ năm 2005, gia đình ông đã có ý định đổ thêm đất trồng lên phần đất gia đình bà H3, ông V1 đã đổ từ trước để xây nhà nhưng gia đình bà H3 ngăn cản không cho vợ chồng ông đổ thêm đất đồng thời đổ thêm đất cho bằng phẳng như hiện nay. Lúc đó gia đình ông có ý kiến thì nhà ông V1 bà H3 nói là nếu sau này phần đất đó thuộc quyền sử dụng của nhà ai thì nhà đó sẽ được sử dụng nên gia đình ông không ai có ý kiến gì nữa.

Ông khẳng định, bờ tường xây bao loan phân định ranh giới giữa thửa đất 211 và thửa đất 220 ông xây đúng mốc giới đất nhà ông, không có việc xây dựng lấn chiếm sang đất nhà cụ B. Phần diện tích đất hiện đang tranh chấp có nguồn gốc là đất của bố mẹ ông, phần đất này, gia đình nhà ông đã được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2001 nên nó không phải là đất của cụ B hay đất của gia đình bà H3, ông V1. Cụ B khởi kiện yêu cầu vợ chồng ông phải tháo dỡ toàn bộ ngôi nhà xây dựng trên phần đất đang tranh chấp và bờ tường bao loan phân định ranh giới giữa thửa đất 211 và thửa đất 220 trả lại cho cụ B 30m² đất lấn chiếm là không có căn cứ nên vợ chồng ông không đồng ý.

Trong quá trình giải quyết, những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan lần lượt trình bày như sau:

- Bà Nguyễn Thị H3 với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và tư cách là người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Hữu V1, bà Nguyễn Thị L, bà Nguyễn Thị T, ông Nguyễn Hữu V2, bà Nguyễn Thị X, bà Nguyễn Thị V3, bà Nguyễn Thị T1, ông Nguyễn Hữu V4, ông Nguyễn Hữu T2 và anh Nguyễn Hữu L1, bà trình bày:

Bà và ông V1 kết hôn với nhau vào năm 1988. Sau khi kết hôn, ông bà ở chung cùng với vợ chồng cụ Nguyễn Hữu X1 và cụ Trần Thị M1 (bố mẹ ông V1). Năm 1989, bà và ông V1 được bố mẹ chồng chia cho một phần đất ao tại thửa đất 211 của cụ B và một phần đất ao của bố mẹ chồng tại thửa đất 221 để làm nhà tách ra ở riêng. Do phần đất vợ chồng cụ X2 chia cho toàn là đất ao, ba bề bốn bên mênh mông là nước nên muốn làm được nhà để ở thì phải bỏ công sức ra lấp ao san nền xong mới làm được nhà. Vì vậy, sau khi được bố mẹ chia đất, vào khoảng cuối năm 1989 đầu năm 1990, vợ chồng bà đã mua đất lấp ao vừa làm đường vừa làm nhà. Diện tích ông bà đổ đất lấp ao ban đầu chỉ đủ xây được ngôi nhà 03 gian cấp bốn ở tạm và con đường đi vào nhà. Khi chuyển đến ở ổn định, vợ chồng bà mới sớm tối tiếp tục đổ đất lấp ao, đến cuối năm 1990 thì đổ được gần như hiện tại. Thời điểm vợ chồng bà đến ở thửa đất 211, ranh giới giữa thửa đất 211 và thửa 222 có một lối đi nhỏ nằm giữa 02 thửa đất 211 và 222 nên ông bà đã dựa vào lối đi này để đổ lân thành con đường đi vào thửa đất 211 như hiện tại.

Trước khi ông bà cải tạo phần đất đang tranh thì phần đất này là cái mương tiêu thoát nước do dân đào từ lâu đời chưa quy chủ cho ai nên ông bà mới dám cải tạo để sử dụng làm đường đi vào nhà của ông bà. Sau khi cải tạo xong, ông bà đã sử dụng liên tục, công khai ổn định lối đi này từ những năm 1990 đến khi ông H1 xây nhà hai bên không xảy ra tranh chấp gì. Thời gian ông bà cải tạo phần đất tranh chấp, vợ chồng cụ T6 còn sống, vợ chồng cụ T6 và các con đang cùng nhau sinh sống trên thửa đất 220 cho đến khi các con cụ T6 lớn lên, xây dựng gia đình thì mới tách ra ở riêng, tất cả hàng xóm láng giềng sinh sống cùng với ông bà đều biết nhưng không ai có ý kiến phản đối gì. Trong thời gian, gia đình ông bà sử dụng phần đất đang tranh chấp, không có bất kỳ cơ quan tổ chức nào yêu cầu gia đình bà không được sử dụng phần đất này. Vì vậy, gia đình ông bà không ai biết xã T làm thủ tục trình Ủy ban nhân dân huyện Y cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng phần đất đang tranh chấp cho gia đình cụ T6 từ khi nào. Xét thấy, việc Ủy ban nhân dân huyện Y cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng phần đất đang tranh chấp cho gia đình cụ T6 tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số R 622413 là không đúng và không phù hợp với quá trình sử dụng đất trên thực tế nên ông bà đồng ý với yêu cầu khởi kiện của cụ B ở trên đề nghị Tòa án xem xét giải quyết bảo vệ quyền lợi cho ông bà.

Hiện tại ngôi nhà cấp 4 của vợ chồng anh H1 đang xây dựng trên phần đất đang tranh chấp chắn lối đi lại của gia đình ông bà nên ông bà yêu cầu Tòa án buộc anh H1 và chị T3 phải tháo dỡ toàn bộ ngôi nhà cấp 4 ở trên để trả lại không gian lối đi vào thửa đất 211 cho gia đình ông bà.

Phần công sức tôn tạo, duy trì của ông bà trong trường hợp phần đất đang tranh chấp được xác định là đất của gia đình cụ T6 thì ông bà sẽ khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết công sức tôn tạo, duy trì của ông bà với gia đình cụ T6 bằng vụ án dân sự khác.

Cụ B đề nghị Tòa án ghi nhận việc tặng cho ông bà phần diện tích thửa đất 211 hiện nay ông bà đang sử dụng thì tất cả những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất hiện đang còn sống của cụ Q, cụ X1 và cụ M1 đều nhất ý và tất cả đều tự nguyện tặng cho ông bà phần diện tích thửa đất 211 hiện nay ông bà đang sử dụng như nguyện vọng của cụ B.

Tại phiên tòa sơ thẩm bà H3 trình bày: Về hàng thừa kế của cụ Q, bà H3 xác nhận đúng như lời trình bày trên của cụ B và bà H.Về hàng thừa kế của vợ chồng cụ T6, bà H3 xác nhận đúng như lời trình bày trên của ông H1. Do cụ T6 bà không phải là người gốc ở thôn C nên không ai biết bố mẹ đẻ cụ T6 bà họ tên là gì. Chỉ biết cụ T6 bà mồ côi bố mẹ từ lúc còn nhỏ. Cụ Nguyễn Hữu X1 chết năm 1994, cụ Trần Thị M1 chết năm 2001. hàng thừa kế của cụ X1 và cụ M1, bà H3 xác nhận. Bố mẹ đẻ cụ X1 là cụ cố Nguyễn Hữu T5 và cụ cố Nguyễn Thị B2, cụ cố Thủ và cụ cố Bất chết trước cụ X1. Bố mẹ đẻ của cụ M1 là cụ cố Trần Văn T8 và cụ cố Trần Thị T9, cụ cố T8 và cụ cố T9 chết trước cụ M1, còn các cụ chết vào năm nào thì bà H3 không nhớ. Cụ X1 và cụ M1 sinh được 07 người con gồm bà Nguyễn Thị X, bà Nguyễn Thị V3, bà Nguyễn Thị T1, ông Nguyễn Hữu H4, ông Nguyễn Hữu V4, ông Nguyễn Hữu V1 và ông Nguyễn Hữu T2.

- Ông Nguyễn Hữu H4 trình bày:

Ông là con trai trưởng của cụ Nguyễn Hữu X1 và cụ Trần Thị M1 và là anh trai ruột của ông Nguyễn Hữu V1. Về nguồn gốc và quá trình sử dụng thửa đất 211 của cụ B và phần diện tích đất đang tranh chấp, ông H4 xác định đúng như lời trình bày trên của cụ B, bà H và bà H3. Về thành phần huyết thống, hàng thừa kế của cụ Q, cụ X1 và cụ M1 ông H4 xác định đúng như lời trình bày trên của cụ B, bà H và bà H3. Ông không biết vì lý do gì mà xã T hợp thức phần đất đang tranh chấp cho nhà cụ T6 để hộ cụ T6 được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với phần đất đang tranh chấp này vào năm 2001. Việc Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với phần đất đang tranh chấp cho hộ cụ T6 là sai không đúng với thực tế quá trình sử dụng đất, ảnh hưởng đền Q1 của gia đình bà H3. Vì vậy, ông đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của cụ B.

Hiện trạng thực tế thửa đất 211 theo quy hoạch của bản đồ địa chính 299 không có lối đi. Phần diện tích đang tranh chấp là lối đi đuy nhất vào thửa đất 211, ngôi nhà cấp 4 của vợ chồng anh H1 đang nằm trên phần đất tranh chấp chắn hết mặt tiền thửa đất 211, chặn lối đi vào nhà vợ chồng bà H3, gia đình bà H3 đang phải đi nhờ thửa đất 221 của vợ chồng cụ X1. Vì vậy, ông đề nghị Tòa án buộc gia đình anh H1 phải tháo dỡ toàn bộ ngôi nhà xây cấp 4 đang nằm trên phần đất tranh chấp để trả lại không gian lối đi cho gia đình bà H3. Ông đồng ý tặng cho ông V1 bà H3 phần diện tích thửa đất 211 hiện nay vợ chồng bà H3 đang sử dụng như nguyện vọng của cụ B.

Đối với phần đất ông H1 xây tường bao loan xung quanh phần định ranh giới giữa thửa đất 221 và 220 có lấn sang đất của nhà ông, tuy nhiên ranh giới giữa đất nhà ông và đất nhà cụ T6 không được thẳng nên có chỗ ông H1 xây tường lấn sang đất nhà ông, có chỗ ông H1 lại chưa xây hết đất nhà mình. Vì vậy, ông đồng ý với ranh giới này và không có ý kiến đề nghị gì.

- Bà Phùng Thị T3, tại phiên tòa sơ thẩm có đơn xin xét xử vắng mặt, trong quá trình giải quyết vụ án trình bày: Bà là vợ ông Nguyễn Đình H1, bà kết hôn với ông H1 vào năm 2002. Sau khi kết hôn, bà về làm dâu nhà ông H1 ngay. Về nguồn gốc, quá trình sử dụng tại các thửa đất 220 và 222 cùng các tài sản xây dựng gắn liền với đất, bà T3 xác định đúng như lời trình bày trên của ông H1, bà không có ý kiến bổ sung gì.

Cụ B khởi kiện yêu cầu gia đình bà phải tháo dỡ ngôi nhà cấp 4 ông bà xây tạm trên phần diện tích đất đang tranh chấp để trả lại lối đi cho gia đình bà H3, bà không đồng ý. Bà khẳng định, phần đất đó là đất của gia đình cụ T6 đã được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Bà không thừa nhận, vợ chồng bà xây dựng tường bao loan phân định ranh giới giữa thửa đất 220 và 221 lấn chiếm sang đất cụ B nên bà không đồng ý trả lại 30m² đất như yêu cầu khởi kiện của cụ B.

- Theo kết quả ủy thác tại Tòa án nhân dân quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh, bà Nguyễn Thị H5 trình bày:

Bà là con đẻ của cụ vợ chồng cụ Nguyễn Đình T6, về nguồn gốc, quá trình sử dụng thửa đất 220 và 222 của gia đình cụ T6. Bà H5 xác định đúng như lời trình bày trên của ông H1, hiện tại bà đang sinh sống ở thành phố Hồ Chí Minh nên bà giao cho ông H1 toàn quyền giải quyết, bà không có ý kiến gì khác.

- Theo kết quả ủy thác tại Tòa án nhân dân huyện Kon Rẫy, tỉnh Kom Tum, bà Nguyễn Thị T4 trình bày:

Bà là con đẻ của cụ vợ chồng cụ Nguyễn Đình T6, về nguồn gốc, quá trình sử dụng thửa đất 220 và 222 của gia đình cụ T6. Bà T4 xác định, đúng như lời trình bày trên của ông H1, hiện tại bà đang sinh sống ở T nên các tài sản xây dựng gắn liền với đất trên 02 thửa đất của cụ T6 như thế nào thì bà không rõ. Bà khẳng định, thửa đất 220 và 222 là tài sản hợp pháp của gia đình cụ T6. Bờ tường xây bao loan phân định ranh giới giữa thửa đất 220 và 211 cùng ngôi nhà cấp 4 xây tạm trên phần diện tích mặt tiền thửa đất 222 nằm liền kề thửa đất 211 là do vợ chồng ông H1 xây. Bà không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của cụ B buộc vợ chồng ông H1 phải tháo dỡ ngôi nhà cấp 4 xây tạm trên phần đất đang tranh chấp để trả lại lối đi cho gia đình bà H3 và tháo dỡ bờ tường bao loan phân định ranh giới giữa thửa đất 220 và 211.

Tòa án đã ra Quyết định ủy thác cho Tòa án nhân dân huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa lấy lời khai của anh Nguyễn Đình H6 và Tòa án nhân dân thị xã Mường Lay, tỉnh Điện Biên lấy lời khai của anh Nguyễn Đình M nhưng không có kết quả. Vì vậy, anh H6 và anh M không có lời trình bày.

Trong quá trình giải quyết, Tòa án đã làm việc với các ông bà là hàng xóm sống liền kề với gia đình bà H3 và gia đình ông H1 gồm: Ông Nguyễn Hữu S nguyên Phó thôn kiêm Công an viên của thôn C, xã T thời kỳ từ năm 2000 đến năm 2017. Bà Đỗ Thị Y, sinh năm 1960; bà Vũ Thị N, sinh năm 1959 và bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1955. Các ông bà trên đều thống nhất trình bày:

Về nguồn gốc, quá trình sử dụng các thửa đất của cụ T6, cụ B và cụ X1 thể hiện như sau:

Thửa đất 220 có nguồn gốc là đất vợ chồng cụ T6 được xã T cấp cho theo tiêu chuẩn đất giãn dân thời kỳ năm 1977 hoặc 1980. Tiêu chuẩn thửa đất 220 ban đầu cấp cho nhà bà Nguyễn Thị N1, lúc đó cụ T6 bà muốn ra ở thửa đất 220 nên cụ T6 bà đề nghị với xã T cấp thửa đất 220 cho nhà cụ T6, còn thửa đất nhà cụ T6 đang ở lúc đó xã T lấy lại để giao cho nhà bà N1. Do vậy, gia đình cụ T6 được cấp thửa đất 220, gia đình bà N1 được cấp thửa đất cũ của nhà cụ T6 đang ở lúc đó. Liền kề với thửa đất 220 nhà cụ T6 là thửa đất 222, thời điểm nhà cụ T6 về sinh sống tại thửa đất 220, thửa đất 222 là đất ao của làng không có người sử dụng.

Thửa đất 211 của cụ B có nguồn gốc là đất ao lâu đời của cụ B, thửa đất ao này có trước khi xã T cấp thửa đất 220 cho gia đình cụ T6. Trước khi gia đình cụ T6 đến ở thửa đất 220, thửa đất 211 cụ B đã trồng tre và thả cá.

Thửa đất 210 và thửa đất 221 có nguồn gốc là đất của cụ X1 bố chồng bà H3. Thửa đất 210 là phần đất liền của gia đình cụ X1, phần đất này gia đình cụ X1 xây nhà ở. Liền kề với thửa đất 210 là thửa đất ao 221 của cụ X1. Sau khi, cụ B cho gia đình cụ X1 thửa đất 211, vợ chồng cụ X1 thả cá trên thửa đất 211 và phần đất ao của thửa đất 210. Thời gian vợ chồng cụ B cho vợ chồng cụ X1 thửa đất 211 vào khoảng trước năm 1980.

Quá trình sử dụng các thửa đất của gia đình cụ T6, cụ B và gia đình cụ X1 diễn ra đúng như lời trình bày trên của cụ B, ông H6 và vợ chồng bà H3.

Liền kề thửa đất 211 của cụ B và thửa đất 220 của gia đình cụ T6 là thửa đất ao 222. Trước khi gia đình cụ T6 ra thửa đất 220 sinh sống, thửa đất 222 là cái ao của làng chưa quy chủ cho ai.

Sau khi được bố mẹ tách đất cho ra ở riêng, vào những năm 1989 hoặc năm 1990, vợ chồng bà H3 ông V1 đã đổ đất lấp ao phần diện tích đang tranh chấp để làm đường và làm nhà ở đúng như lời trình bày trên của ông V1 bà H3. Sau khi làm nhà xong, gia đình bà H3 sử dụng phần diện tích đang tranh chấp đất làm lối cổng đi vào nhà ổn định, liên tục, công khai không xảy ra tranh chấp gì từ năm 1990. Việc nhà bà H3 đổ đất, lấp ao và sử dụng phần diện tích đang tranh chấp để làm đường đi vào nhà diễn ra công khai, ai cũng biết. Sau khi gia đình bà H3 và gia đình ông H1 xảy ra tranh chấp thì lúc đó mọi người mới biết thửa đất 222, hộ cụ T6 đã được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong đó có phần đất đang tranh chấp vợ chồng bà H3 bỏ công sức ra cải tạo và sử dụng. Việc hợp thức thửa đất 222 cho nhà cụ T6 của xã T để hộ cụ T6 được Nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với phần đất vợ chồng bà H3 bỏ công sức ra cải tạo và sử dụng là không phù hợp với thực tế sử dụng đất của các hộ dân. Vì vậy, các ông bà đề Tòa án xem xét giải quyết cho công bằng để không ảnh hưởng đến quyền lợi của gia đình bà H3 và gia đình ông H1.

Kết quả thu thập ý kiến của những người dân hiện đang sinh sống tại thôn C xóm C, xã T gồm ông Nguyễn Văn S1, sinh năm 1972; ông Trịnh Văn T10, sinh năm 1947 và ông Trịnh Văn D, sinh năm 1967 như sau:

Về nguồn gốc, quá trình sử dụng các thửa đất 211, 222, 220 và 210, ông S1, ông T10 và ông D đều xác định đúng như lời trình bày trên của cụ B, bà H3.

Đối với phần đất đang tranh chấp tại thửa đất 222, vợ chồng bà H3 bỏ công sức ra cải tạo và sử dụng ổn định, công khai liên tục từ năm 1990 đến khi nhà bà H3 và nhà ông H1 xảy ra tranh chấp. Gia đình cụ T6 và gia đình ông H1 chưa bao giờ cải tạo hay có thời gian sử dụng phần đất đang tranh chấp này. Sau khi gia đình bà H3 và gia đình ông H1 xảy ra tranh chấp thì lúc đó mọi người mới biết thửa đất 222, hộ cụ T6 đã được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong đó có phần đất đang tranh chấp vợ chồng bà H3 bỏ công sức ra cải tạo và sử dụng. Việc hợp thức thửa đất 222 cho nhà cụ T6 của xã T để hộ cụ T6 được Nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với phần đất vợ chồng bà H3 bỏ công sức ra cải tạo và sử dụng là không phù hợp với thực tế sử dụng đất của các hộ dân. Vì vậy, các ông đề Tòa án xem xét giải quyết cho công bằng để không ảnh hưởng đến quyền lợi của gia đình bà H3 và gia đình ông H1.

Với nội dung trên, tại bản án dân sự sơ thẩm số: 13/2023/DS-ST ngày 31 tháng 7 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện Yên Lạc đã quyết định:

Căn cứ các điều 100, 203 Luật đất đai năm 2013; các điều 175, 176 và Điều 254 của Bộ luật dân sự; các điều 147, 157, khoản 2 Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị định số: 43/2014/NĐ – CP ngày 15/5/2014 quy định về việc thi hành một số điều của Luật đất đai năm 2013; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:

1. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu khởi kiện của cụ Trịnh Thị B về việc, buộc ông Nguyễn Đình H1 và bà Phùng Thị T3 phải tháo dỡ toàn bộ phần bờ tường rào xây bao loan phân định ranh giới giữa thửa đất 211 và thửa đất 220 lấn sang đất nhà cụ B để trả lại cho cụ B 30m² đất.

Cụ Trịnh Thị B có quyền khởi kiện lại đối với yêu cầu đã rút ở trên theo quy định của pháp luật.

2. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của cụ Trịnh Thị B đối với bị đơn là ông Nguyễn Đình H1.

- Xác định, ngôi nhà cấp bốn lợp pòlôximăng của vợ chồng ông H1 bà T3 xây dựng trên phần diện tích đất đang tranh chấp tại thửa đất 222, tờ bản đồ số 5, diện tích 240m² tọa lạc tại thôn C, xóm C, xã T, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc (gọi tắt là thửa đất 222) lấn chiếm sang thửa đất 211 là 6,6m².

- Buộc ông Nguyễn Đình H1 và bà Phùng Thị T3 phải phá dỡ toàn bộ ngôi nhà cấp bốn xây dựng trên phần diện tích đất đang tranh chấp tại thửa đất 222 để trả lại mặt bằng không gian cho lối đi vào đất nhà bà H3, ông V1.

Cụ Trịnh Thị B và vợ chồng bà Nguyễn Thị H3 không phải bồi thường thiệt hại về tài sản cho ông Nguyễn Đình H1 và bà Phùng Thị T3 trong việc tháo dỡ ngôi nhà cấp bốn của ông H1 bà T3 xây dựng trên phần diện tích đất tranh chấp tại thửa đất 222 và trả lại mặt bằng không gian cho lối đi.

Bà H3 và ông V1 được quyền liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền kê khai xin đăng ký xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng phần diện tích đang tranh chấp tại thửa đất 222 theo quy định của Luật đất đai.

Ngoài ra Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí và tuyên quyền yêu cầu thi hành án, quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định của pháp luật.

Ngày 29 tháng 10 năm 2023 và ngày 30 tháng 10 năm 2023, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Đình H6 và ông Nguyễn Đình M có đơn kháng cáo với nội dung: không đồng ý với Bản án sơ thẩm số 13/2023 ngày 31 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc và đề nghị hủy bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Đình H6 và ông Nguyễn Đình M giữ nguyên kháng cáo như đã nêu trên; Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn cụ Trịnh Thị B và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị H3 cũng có quan điểm đề nghị hủy bản án sơ thẩm để Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc giải quyết lại vụ án.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Nguyễn Đình H1 phát biểu quan điểm đề nghị tòa án hủy bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc phát biểu và có quan điểm: Đề nghị áp dụng khoản 3 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 13/2023/DS- ST ngày 31 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc, chuyển hồ sơ cho tòa Yên Lạc giải quyết xét xử lại.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh tụng công khai tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

1.Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Đình H6 và ông Nguyễn Đình M là quá thời hạn quy định tại Điều 273 của Bộ Luật tố tụng dân sự, tuy nhiên do việc tống đạt bản án cho ông H6 và ông M chưa được đảm bảo ảnh hưởng đến quyền lợi và nghĩa vụ của ông H6 và ông M. Tại phiên họp xét kháng cáo quá hạn, Tòa án đã chấp nhận việc kháng cáo quá hạn của ông Nguyễn Đình M và Nguyễn Đình H6; Ông M và ông H6 đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Về nội dung kháng cáo: Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Đình M và Nguyễn Đình H6 kháng cáo đề nghị hủy bản án dân sự sơ thẩm. Sau khi xem xét nội dung vụ án Hội đồng xét xử thấy rằng:

Theo hồ sơ vụ án, nguồn gốc thửa đất ao số 211, tờ bản đồ số 05, diện tích 545m² tại thôn C xóm C, xã T, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc (gọi tắt là thửa 211) là của cụ Trịnh Thị B và cụ Nguyễn Hữu Q. Do gia đình cụ Nguyễn Hữu X1 (em trai cụ Q) đông con nên vợ chồng cụ B đã cho vợ chồng cụ X1 toàn bộ thửa đất ao số 211 (Thời gian cho cách đây khoảng trên dưới 40 năm). Sau khi được vợ chồng cụ B cho đất, hàng năm vợ chồng cụ X1 sử dụng thửa đất 211 để thả cá. Năm 1988, ông V1 kết hôn với bà H3. Năm 1989, vợ chồng cụ X1 chia thửa đất 211 cho 02 người con trai là ông Nguyễn Hữu H4 và ông Nguyễn Hữu V1 để làm nhà tách ra ở riêng. Phần đất của ông H4 được chia nằm ở vị trí phía trong liền kề giáp đất nhà ông H4 bây giờ đang sử dụng, phần đất của ông V1 được chia nằm ở vị trí giáp ranh với thửa đất 222.

Sau khi được chia đất, vợ chồng ông V1 bà H3 đã đổ đất lấp ao, san nền chạy dọc từ đường trục thôn đi qua thửa đất 222. Vợ chồng ông V1, bà H3 đổ đất lấp ao kéo dài từ khoảng cuối năm 1989 đến cuối năm 1990 thì gần như lấp ao san nền xong. Sau khi có mặt bằng, vợ chồng bà H3 ông V1 tiến hành xây ngôi nhà cấp bốn 3 gian như hiện nay để ở, trồng cây cối lâu năm phân định ranh giới đất rõ ràng và sống ổn định, công khai liên tục từ cuối năm 1990 đến năm 2015 thì anh Nguyễn Đình H1 là con trai cụ T6 xây ngôi nhà cấp 4 lợp polôximăng sang phần đất vợ chồng bà H3 ông V1 đang sử dụng dẫn đến hai bên xảy ra tranh chấp.

Về hồ sơ địa chính và các giấy tờ về đất đai: Thửa đất 211 theo số địa chính đứng tên cụ Q và hiện chưa được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định. Đối với thửa đất 222 đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số R 622413 cấp ngày 13/11/2001 đứng tên chủ hộ Nguyễn Đình T6.

Theo hồ sơ địa chính đang lưu trữ tại xã T, thửa đất 211 mặc dù đứng tên cụ Q nhưng trên thực tế, vợ chồng bà H3, ông V1 và gia đình nhà ông H4 đã sử dụng ổn định thửa đất trên từ những năm 1989 đến nay. Gia đình bà H3, ông V1 là người có công san lấp đất ao, đổ đất, cải tạo đất để xây dựng nhà tại thửa 211. Đối với phần diện tích đất tranh chấp tại thửa số 222, gia đình bà H3 cũng là người trực tiếp đổ đất, lấp ao, san nền và trực tiếp sử dụng. Như vậy, đối với cả 2 thửa đất 211 và 222, cụ B không trực tiếp quản lý, sử dụng, không có công sức san lấp, tôn tạo, việc cụ B khởi kiện và Tòa án sơ thẩm tuyên chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của cụ Trịnh Thị B đối với bị đơn ông Nguyễn Đình H1 nhưng lại tuyên quyền sử dụng cho bà H3 và ông V1.

Quá trình giải quyết vụ án, ông V1 bà H3 không có yêu cầu độc lập nhưng Tòa án cấp sơ thẩm tuyên buộc ông Nguyễn Đình H1 và bà Phùng Thị T3 phải phá dỡ toàn bộ ngôi nhà cấp bốn để trả lại mặt bằng lối đi vào đất của bà H3, ông V1 với tổng diện tích 40,7m²; tuyên bà H3, ông V1 được quyền liên hệ với cơ quan Nhà nước kê khai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần diện tích đang tranh chấp 72,1m². Đồng thời tòa án ghi nhận sự tự nguyện của cụ B về việc tặng cho ông V1, bà H3 phần diện tích đang sử dụng tại thửa 211 khi ông H3, bà V1 không có yêu cầu độc lập, việc tặng cho chưa tuân thủ quy định của pháp luật nên chưa có hiệu lực pháp luật nên không thể ghi nhận quyền sử dụng đất cho ông V1 và bà H3 trong vụ án này. Ngoài ra, theo sơ đồ hiện trạng thửa đất, đất thửa 211 (thửa đất số 397 theo bản đồ VN 2000) theo chỉ giới: N’-12-13-14-15-16-17-18-19-20-21-22-C-B-N đang có sự tranh chấp, lấn sang nhau giữa các thửa 397, 383, 396, Tòa cấp sơ thẩm chưa giải quyết tranh chấp mốc giới giữa các thửa đất mà tuyên xác nhận gianh giới đất của cụ B theo chỉ giới nêu trên là không có căn cứ.

Về thủ tục đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ, cấp sơ thẩm: Tại phiếu xác nhận kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất do Công ty Đ lập ngày 09/7/2019 là kết quả đo đạc hiện trạng diện tích đất tranh chấp, là sơ đồ có tính pháp lý và là cơ sở để xem xét giải quyết tranh chấp nhưng không có vị trí các điểm, không có thông tin người sử dụng đất. Đối với Sơ đồ hiện trạng (là sơ đồ thứ hai kèm theo Bản án), sơ đồ này không có xác nhận của của Công ty Đ có thẩm quyền do vậy không đầy đủ tính pháp lý để giải quyết vụ án, Tòa cấp sơ thẩm tuyên án theo Sơ đồ này là không đúng.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa cấp sơ thẩm lấy lời khai của một số người làm chứng về nguồn gốc thửa đất 222 thể hiện: Liền kề với thửa đất 220 nhà cụ T6 là thửa đất 222, thời điểm nhà cụ T6 về sinh sống tại thửa đất 220, thửa đất 222 là đất ao của làng không có người sử dụng. Trên thực tế trên thửa đất 222 nằm sát đường dân sinh, năm 1989 vợ chồng ông V1 và bà H3 đổ đất trên một phần diện tích thửa 222 để lấy lối đi vào thửa 211; phần còn lại gia đình cụ T6 đổ đất để sử dụng như hiện nay. Đến năm 2001, cụ T6 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa 222. Tuy nhiên, cấp sơ thẩm chưa làm rõ việc vợ chồng ông V1 và bà H3 đổ đất vào phần diện tích đất ao của làng từ năm 1989 địa phương có biết không và có ý kiến gì không, trước năm 2000 địa phương quản lý thửa đất 222 như thế nào; căn cứ nào cụ T6 được cấp để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa 222, việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất 222 cho cụ Tó có đúng không. Ngoài ra trong hồ sơ vụ án thể hiện các đương sự đều thừa nhận bà H3, ông V1 là người đổ đất, lấp ao, cải tạo một phần thửa đất 222 để làm đường đi nhưng cấp sơ thẩm không làm rõ công sức của bà H3, ông V1, giá trị đất đổ để san lấp mặt bằng thửa đất ao để làm căn cứ giải quyết vụ án. Tại cấp phúc thẩm, ông Nguyễn Đình H1 giao nộp 01 bản “Di nguyện” ngày 28/12/2004 của cụ Nguyễn Đình T6 có nội dung chia đất cho các con, trong đó có nội dung “tạm giao diện tích khoảng 200m² cho anh Nguyễn Đình H6 lấy chỗ cất một ngôi nhà để ở tại vị trí giáp nhà ông Q bao gồm cả đất thổ cư và đất ao...” ông Nguyễn Đình H1 cung cấp tại phiên tòa phúc thẩm thì trên diện tích đất tranh chấp, ngoài ngôi nhà cấp bốn thì ông Nguyễn Định H7 còn xây dựng tường bao loan trên một phần diện tích đất trống và trồng một số cây cối lâm lộc trên đất đang tranh chấp. Đây là tình tiết mới được đương sự xuất trình tại cấp phúc thẩm mà không thể làm rõ được.

Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự đều thống nhất đề nghị Tòa án hủy bản án sơ thẩm để giải quyết lại theo quy định của pháp luật. Từ những nhận định nêu trên nên cần chấp nhận kháng cáo của anh Nguyễn Đình M, anh Nguyễn Đình H6, hủy bản sơ thẩm để giải quyết lại theo đúng quy định của pháp luật.

[3]. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, được chấp nhận.

[4]. Về án phí: Đối với án phí dân sự sơ thẩm, cấp sơ thẩm xác định mối quan hệ pháp luật là “Tranh chấp quyền sử dụng đất”. Diện tích đất tranh chấp là 40,7m2 phải tính theo án phí giá ngạch, tuy nhiên cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm nên không xem xét án phí dân sự sơ thẩm.

Đối với án phí dân sự phúc thẩm: Các đương sự không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, xử:

Hủy bản án dân sự sơ thẩm số: 13/2023/DS-ST ngày 31 tháng 7 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện Yên Lạc.

Chuyển hồ sơ cho Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

Về án phí dân sự phúc thẩm: Các đương sự không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Anh Nguyễn Đình M được hoàn trả 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí số: 00003145 ngày 05/01/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Lạc.

Anh Nguyễn Đình H6 được hoàn trả 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí số: 00003144 ngày 05/01/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Lạc.

Án phí dân sự sơ thẩm được giải quyết khi Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc giải quyết xét xử lại.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - TAND huyện Yên Lạc;
  • - VKSND huyện Yên Lạc;
  • - Chi cục THADS huyện Yên Lạc;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Thị Thu Hiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Quyết định số 98/2024/DS - PT ngày 24/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số quyết định: 98/2024/DS - PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 24/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger