|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Số: 94/2024/QĐPS-PT |
Hà Nội, ngày 19 tháng 9 năm 2024 |
QUYẾT ĐỊNH
GIẢI QUYẾT ĐỀ NGHỊ XEM XÉT LẠI
QUYẾT ĐỊNH KHÔNG MỞ THỦ TỤC PHÁ SẢN
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Thành phần Tổ Thẩm phán gồm có:
Tổ trưởng Tổ Thẩm phán: Ông Nguyễn Phan Nam
Thành viên Tổ Thẩm phán: Ông Điều Văn Hằng
Ông Phùng Hải Hiệp
- Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Hương Liên, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội: Ông Bùi Ngọc Tân, Kiểm sát viên cao cấp
Tại Đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đề ngày 08/9/2023 và được bổ sung vào các ngày 28/11/2023, ngày 11/12/2023 của Công ty TNHH T (sau đây viết tắt là Công ty T) đối với Công ty TNHH M (sau đây viết tắt là Công ty M1), vì cho rằng đã quá 03 tháng kể từ ngày khoản nợ đến hạn (theo Biên bản xác nhận công nợ ngày 26/8/2022 và Cam kết về việc thanh toán tiền mua hàng ngày 07/12/2022) Công ty M1 không thực hiện nghĩa vụ thanh toán tiền hàng cho Công ty T.
Ngày 18/3/2024, Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh có Thông báo số 01/TB-TLPS thụ lý yêu cầu mở thủ tục phá sản.
Tại Quyết định không mở thủ tục phá sản số 01/2024/PS ngày 15/4/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh cho rằng “Số tiền Công ty M còn nợ Công ty T là khoản tiền phát sinh từ các hợp đồng mua bán hàng hóa giữa hai công ty, số tiền này chưa được giải quyết bằng bản án, quyết định có hiệu lực của Tòa án. Biên bản xác nhận công nợ ngày 16/8/2022 và Bản cam kết về việc thanh toán tiền hàng ngày 07/12/2022 mà Công ty T đưa ra là cam kết về nghĩa vụ cung cấp mã kích hoạt máy móc và việc thanh toán tiền hàng giữa hai bên” để căn cứ vào khoản 1 Điều 4 Luật Phá sản xác định số tiền đó “không phải là khoản nợ đến hạn thanh toán theo quy định”. Từ đó, không chấp nhận yêu cầu mở thủ tục phá sản của Công ty T đối với Công ty M.
Tại Đơn đề ngày 04/5/2024, Công ty L2 là đại diện theo ủy quyền cho Công ty T có đơn đề nghị xem xét lại Quyết định không mở thủ tục phá sản số 01/2024/PS ngày 15/4/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh vì cho rằng Công ty M đã ký “Biên bản cam kết” ngày 07/12/2022 xác định nợ Công ty T số tiền 199,787 USD và cam kết “thanh toán ngay tiền công nợ cho bên A, kể từ ngày bàn giao mã số kích hoạt”; Công ty T đã cung cấp toàn bộ mật mã kích hoạt cho Công ty M; nhưng cho đến nay, Công ty M chưa thanh toán bất cứ khoản tiền nào cho Công ty T. Tòa án không yêu cầu Công ty T bổ sung chứng cứ, không triệu tập họp với các bên để xem xét căn cứ chứng minh Công ty M mất khả năng thanh toán, mà ra Quyết định không mở thủ tục phá sản đối với Công ty M là trái pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên họp có quan điểm: Đơn đề nghị hủy quyết định không mở thủ tục phá sản của Công ty T là không có căn cứ, đề nghị Tổ Thẩm phán giữ nguyên Quyết định không mở thủ tục phá sản số 01/2024/PS ngày 15/4/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.
XÉT THẤY
[1] Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và lời trình bày của người đại diện cho người yêu cầu thì thấy: Tại Biên bản đối chiếu công nợ Công ty T gửi Công ty M ngày 26/8/2022, Công ty M đã xác nhận theo sổ sách kế toán tính đến ngày 25/8/2022, Công ty M còn nợ Công ty T 214,228 USD. Tại phiên họp phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền khai sau ngày 26/8/2022, phía Công ty M đã trả cho Công ty T một phần khoản nợ nên đến ngày 07/12/2022 hai bên đã xác lập Bản cam kết về việc thanh toán tiền mua hàng.
[2] Xem xét Bản cam kết về việc thanh toán tiền mua hàng ngày 07/12/2022 thì thấy: Phía Công ty M thừa nhận còn nợ Công ty T “số tiền mua hàng chưa trả tạm tính là 199,787 USD. Sau đây gọi tắt là Công nợ” và cam kết “Sau khi bên A cung cấp mã số kích hoạt máy móc cho bên B, bên B có nghĩa vụ thanh toán ngay tiền Công nợ cho bên A, kể từ ngày bàn giao mã số kích hoạt.
+ Trước ngày 30/12/2022, bên B sẽ thanh toán cho bên A 10-15% tiền Công nợ;
+ Trong tháng 01/2023, bên B sẽ thanh toán cho bên A 10-15% tiền Công nợ;
+ Tiếp tục trả 10-15% số nợ hàng tháng sau đó. Nếu khách hàng trả trước sẽ thanh toán ngay cho bên A.”
[3] Công ty T khai đã cung cấp toàn bộ mật mã kích hoạt cho Công ty M, xong hồ sơ không có tài liệu nào chứng minh Công ty T đã cung cấp toàn bộ mật mã kích hoạt cho Công ty M, và tại phiên họp khi được hỏi thì người đại diện theo ủy quyền của Công ty T cũng không cung cấp được tài liệu chứng cứ chứng minh cho vấn đề này. Theo Bản cam kết về việc thanh toán tiền mua hàng thì đến ngày 07/12/2022, Công ty M còn nợ Công ty T “số tiền mua hàng chưa trả tạm tính là 199,787 USD” là khoản nợ chưa cụ thể, rõ ràng (mới tạm tính) và thời hạn thanh toán được hai bên thỏa thuận thống nhất sau tháng 01/2023, hàng tháng Công ty M có nghĩa vụ trả 10-15% số nợ, nên theo quy định tại khoản 1 Điều 5 Luật Phá sản thì ngày 08/9/2023, Công ty T có đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản là chưa đủ căn cứ xác định đã hết thời hạn 03 tháng kể từ ngày khoản nợ đến hạn thanh toán mà Công ty M không thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho Công ty T; trong trường hợp này lẽ ra Tòa án cấp sơ thẩm cần yêu cầu Công ty T cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh đã đủ 03 tháng kể từ ngày khoản nợ đến hạn thanh toán mà Công ty M không thực hiện nghĩa vụ thanh toán, nếu không cung cấp được thì trả lại đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản của Công ty T mới đúng; nhưng Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý đơn là không đúng, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm ra Quyết định không mở thủ tục phá sản số 01/2024/PS ngày 15/4/2024 không mở thủ tục phá sản đối với Công ty M là có căn cứ. Hơn nữa, Công ty T có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản lại đối với Công ty M khi đáp ứng đủ các điều kiện theo quy định theo Điều 5, Điều 26 Luật phá sản. Do đó, Tổ Thẩm phán không chấp nhận Đơn đề nghị xem xét lại Quyết định không mở thủ tục phá sản của Công ty T; quan điểm đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại phiên họp phù hợp với nhận định của Tổ Thẩm phán nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên, căn cứ Điều 42, điểm a khoản 7, khoản 8 Điều 44 Luật Phá sản 2014; Điều 17, 18, 19, 20 Thông tư số 01/2015/TT-CA ngày 08/10/2015 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định về Quy chế làm việc của Tổ Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ việc phá sản;
QUYẾT ĐỊNH
- Không chấp nhận Đơn đề nghị xem xét lại Quyết định không mở thủ tục phá sản của Công ty TNHH T; giữ nguyên Quyết định không mở thủ tục phá sản số 01/2024/PS ngày 15/4/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.
- Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.
|
Nơi nhận
|
TM. TỔ THẨM PHÁN Thẩm phán – Chủ tọa phiên họp Nguyễn Phan Nam |
Quyết định số 94/2024/QĐPS-PT ngày 19/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về giải quyết đề nghị xem xét lại quyết định không mở thủ tục phá sản
- Số quyết định: 94/2024/QĐPS-PT
- Quan hệ pháp luật: GIẢI QUYẾT ĐỀ NGHỊ XEM XÉT LẠI QUYẾT ĐỊNH KHÔNG MỞ THỦ TỤC PHÁ SẢN
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 19/09/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: kc
