|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Số: 93/2025/QÐST-HNGĐ |
Thọ Xuân, ngày 01 tháng 4 năm 2025 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Lê Ngọc Công.
Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Văn Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hoá.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên họp: Ông Đỗ Tiến Dũng - Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 69/2025/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 3 năm 2025 về việc yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi, theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 03/2025/QÐST-DS ngày 03 tháng 3 năm 2025, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Hà Đình N, sinh năm 1953 và bà Lê Thị T, sinh năm 1951 (vợ ông N), địa chỉ: Thôn V, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
Người đại diện theo uỷ quyền của bà T: Ông Hà Đình N, sinh năm 1953, địa chỉ: Thôn V, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Hà Đình L, sinh năm 1986, địa chỉ: Thôn V, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Có đơn xin giải quyết vắng mặt.
- Chị Lê Thị Diệu Q, sinh năm 1983, địa chỉ: Thôn V, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Có đơn xin giải quyết vắng mặt.
- Anh Hà Tiểu L1, sinh năm 2008, địa chỉ: Thôn V, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Có đơn xin giải quyết vắng mặt.
1
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ
Tại đơn yêu cầu, bản tự khai và tại phiên họp hôm nay, người yêu cầu là ông Hà Đình N và bà Lê Thị T trình bày: Gia đình ông bà và chị Lê Thị Diệu Q có mối quan hệ hàng xóm với nhau. Năm 2008 chị Q chưa lập gia đình nhưng đã có con là cháu Hà Tiểu L1, sinh ngày 09/10/2008. Thời gian đó chị Q không có khả năng nuôi con. Vì thương hoàn cảnh chị Q và cháu L1 nên ông bà đã đặt vấn đề xin cháu L1 làm con nuôi. Được sự đồng ý của chị Q, ông bà đã làm thủ tục nhận nuôi con nuôi theo quy định và đã được UBND xã T nay là xã X cấp quyết định công nhận việc nuôi con nuôi số 27/QĐ – UBND ngày 10/12/2009. Sau khi nhận nuôi, ông bà đã tận tình chăm sóc cháu L1 cho đến nay. Nay vợ chồng ông bà đã già yếu, không có khả năng tiếp tục nuôi dưỡng cháu nữa.
Gần đây, anh Hà Đình L mới biết cháu L1 là con đẻ của mình, anh đã làm thủ tục xác nhận cha cho con và đã được Toà án nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hoá công nhận anh và cháu Hà Tiểu L1 là cha - con theo quyết định số 230/2024/QÐST – HNGĐ ngày 22/11/2024. Nay anh L có nguyện vọng xin được nhận lại cháu L1 về nuôi dưỡng và cháu L1 cũng có nguyện vọng được trở về sống chung với bố ruột của mình là anh Hà Đình L nên ông bà làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết chấm dứt việc nuôi con nuôi giữa ông bà và cháu L1.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là cháu Hà Tiểu L1 trình bày: Cháu là con nuôi của bố Hà Đình N và mẹ Lê Thị T. Nguyện vọng của cháu là muốn được quay về ở với bố ruột là Hà Đình L, cháu đề nghị Tòa án giải quyết chấm dứt việc nuôi con nuôi giữa bố mẹ nuôi là ông N và bà T đối với cháu.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Hà Đình L trình bày: Năm 2008 anh có quen chị Lê Thị Diệu Q và sinh ra cháu Hà Tiểu L1, lúc đó anh và chị Q không phải là vợ chồng và chưa ai có gia đình riêng. Bản thân anh cũng không biết việc anh có con với chị Q. Do hoàn cảnh khó khăn nên chị Q đã cho cháu L1 làm con nuôi của ông N, bà T. Nay anh biết cháu L1 là con ruột của mình nên anh có nguyện vọng đón cháu về chăm sóc. Vì vậy anh đề nghị Toà án chấm dứt việc nuôi con nuôi giữa ông N, bà T đối với cháu L1.
Chị Lê Thị Diệu Q thống nhất với ý kiến của ông N, bà T và có đơn xin giải quyết vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ Xuân tham gia phiên họpphát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký và của những người tham gia tố tụng là đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và đề nghị Toà án căn cứ: Khoản 5 Điều 29, điểm b khoản 2 Điều 35, điểm 1 khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 78 của Luật Hôn nhân và gia đình; Án lệ số 61/2023/AL; Điều 25; khoản 1 Điều 26, khoản 1 Điều 27 của Luật nuôi con nuôi, chấp nhận đơn đề nghị chấm dứt việc nuôi con nuôi của ông Hà Đình N và bà Lê Thị T.
- Tuyên bố chấm dứt việc nuôi con nuôi giữa cha mẹ nuôi là ông Hà Đình N và bà Lê Thị T đối với con nuôi là cháu Hà Tiểu L1.
2
- Quyền và nghĩa vụ của cha mẹ nuôi và con nuôi chấm dứt kể từ ngày quyết định chấm dứt việc nuôi con nuôi của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
- Quyền và nghĩa vụ giữa cha đẻ, mẹ đẻ là anh Hà Đình L và chị Lê Thị Diệu Q và con đẻ là cháu Hà Tiểu L1 được khôi phục kể từ thời điểm quan hệ nuôi con nuôi chấm dứt.
- Về lệ phí: Căn cứ Điều 149; Điều 371; Điều 372 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 6, khoản 1 Điều 35, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, miễn tiền lệ phí cho ông N và bà T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Ông Hà Đình N và bà Lê Thị T có địa chỉ tại Thôn V, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa có đơn yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân theo quy định tại khoản 5 Điều 29, điểm b khoản 2 Điều 35, điểm 1 khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Anh Hà Đình L, chị Lê Thi Diệu Q1, cháu Hà Tiểu L1 có đơn xin vắng mặt tại phiên họp, nên căn cứ theo khoản 3 Điều 367 của Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án mở phiên họp xét vắng mặt các đương sự nêu trên.
[2] Về nội dung yêu cầu: Năm 2009 ông Hà Đình N1 và bà Lê Thị Thanh N2 cháu Hà Tiểu L1 là con đẻ của anh Hà Đình L và chị Lê Thị Diệu Q làm con nuôi; các bên có làm hồ sơ nhận nuôi con nuôi và được Ủy ban nhân dân xã T (nay là xã X), huyện T ra quyết định công nhận việc nuôi con nuôi số: 27/QĐ – UBND ngày 10/12/2009 theo quy định. Do đó quan hệ nuôi con nuôi giữa ông N và bà T đối với cháu L1 là hợp pháp và các bên đều đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật. Nay ông N và bà T đã già yếu, cháu L1 cũng có nguyện vọng về ở với bố ruột là anh Hà Đình Lâm sinh S, anh Hà Đình L và mẹ ruột cháu L1 là chị Lê Thị Diệu Q cũng đồng tình, nên ông N, bà T đã làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết chấm dứt việc nuôi con nuôi đối với cháu L1. Xét yêu cầu của ông N, bà T phù hợp với quy định tại Án lệ số 61/2023/AL; khoản 1 Điều 26 của Luật nuôi con nuôi. Do đó cần chấp nhận yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi của ông N, bà T đối với cháu L1.
[3] Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Ông N và bà T đều là người cao tuổi và có đơn xin miễn tiền lệ phí nên căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14, miễn tiền lệ phí chao ông N, bà T.
QUYẾT ĐỊNH
3
Căn cứ vào khoản 5 Điều 29, điểm b khoản 2 Điều 35, điểm 1 khoản 2 Điều 39; khoản 1 Điều 149, khoản 3 Điều 367, Điều 371, Điều 372 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ án lệ số 61/2023/AL;
Căn cứ vào khoản 1, khoản 3 Điều 78 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào Điều 25; khoản 1 Điều 26, khoản 1 Điều 27 của Luật nuôi con nuôi;
Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự của ông Hà Đình N và bà Lê Thị T.
Chấm dứt việc nuôi con nuôi giữa ông Hà Đình N và bà Lê Thị T đối với cháu Hà Tiểu L1, sinh ngày 09/10/2008 (theo quyết định công nhận việc nuôi con nuôi số 27/QĐ-UBND ngày 10 tháng 12 năm 2009 của Ủy ban nhân dân xã T (nay là xã X), huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
Quyền và nghĩa vụ của cha nuôi, mẹ nuôi với con nuôi chấm dứt kể từ ngày quyết định chấm dứt việc nuôi con nuôi của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
Quyền và nghĩa vụ giữa cha đẻ, mẹ đẻ và con đẻ được khôi phục kể từ thời điểm quan hệ nuôi con nuôi chấm dứt.
- Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Miễn tiền lệ phí dân sự sơ thẩm cho ông Hà Đình N và bà Lê Thị T.
- Quyền kháng cáo: Người yêu cầu giải quyết việc dân sự được quyền kháng cáo quyết định trong hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo quyết định trong hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tòa án ra quyết định.
- Trường hợp Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
4
|
Nơi nhận:
|
THẨM PHÁN Lê Ngọc Công |
5
Quyết định số 93/2025/QÐST-HNGĐ ngày 01/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA về yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi
- Số quyết định: 93/2025/QÐST-HNGĐ
- Quan hệ pháp luật: Yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 01/04/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: fsfs
