TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ——————— |
Số: 92/2024/QÐST-HNGĐ Ngày: 11/11/2024. |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH
(V/v Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con)
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
Thành phần giải quyết việc hôn nhân và gia đình gồm có:
- - Chủ tọa phiên họp: Ông Nguyễn Xuân Trường - Thẩm phán
- - Thư ký phiên họp: Ông Lê Quốc Phong - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên họp: Bà Phạm Thị Quyên - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương mở phiên họp công khai giải quyết việc hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số 502/2024/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 10 năm 2024, về việc “Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con”, theo Quyết định mở phiên họp số 481/2024/QÐST-HNGĐ ngày 31 tháng 10 năm 2024, giữa:
* Người yêu cầu:
- - Anh Tô Văn H, sinh năm 1986, Địa chỉ: KDC K, phường V, thành phố C tỉnh Hải Dương.
- - Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1986, Địa chỉ trước khi xuất cảnh: KDC K, phường V, thành phố C tỉnh Hải Dương. Chỗ ở hiện nay: Nhật Bản
Người được anh H, chị N ủy quyền giao nhận, văn bản tố tụng: Anh Đặng Thái L, sinh năm 1985, địa chỉ: KDC T, phường S, thành phố C, tỉnh Hải Dương.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Vũ Thị T, sinh năm 1965, Địa chỉ: KDC K, phường V, thành phố C, tỉnh Hải Dương.
Anh H, chị N, anh L và bà T đều đề nghị giải quyết vắng mặt.
NỘI DUNG VIỆC HÔN NHÂN VÀ ĐÌNH:
* Theo đơn xin ly hôn của anh Tô Văn H và chị Nguyễn Thị N, cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh Tô Văn H và chị Nguyễn Thị N tự do tìm hiểu, tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện C (nay là phường V, thành phố C), tỉnh Hải Dương ngày 27/8/2008 và được gia đình hai bên tổ chức đám cưới theo phong tục địa phương. Sau khi cưới, chị N chuyển về nhà anh H tại KDC K, phường V, thành phố C để sinh sống cùng gia đình nhà chồng. Năm 2014 chị N đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản, anh H ở lại Việt Nam đến năm 2017 anh H mới đi Đài Loan lao động. Năm 2022 anh H về Việt Nam, còn chị N vẫn tiếp tục làm việc ở Nhật Bản đến nay chưa về nước. Vợ chồng xa cách không chung sống cùng nhau nên nảy sinh nhiều mâu thuẫn trong cuộc sống, nguyên nhân là không hợp nhau về tính cách, quan điểm sống, mỗi lần liên lạc vợ chồng đều xảy ra cãi vã, trong cuộc sống không có sự tin tưởng. Nay anh H và chị N xác định không thể chung sống cùng nhau nên thống làm đơn đề nghị Toà án giải quyết cho anh chị được ly hôn với nhau.
- Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Tô Hải Đ, sinh ngày 18/3/2012. Ly hôn anh chị thống nhất để chị N được chăm sóc, nuôi dưỡng con chung cho đến khi trưởng thành. Việc cấp dưỡng nuôi con chung vợ chồng tự thỏa thuận không yêu cầu cầu Tòa án giải quyết. Chị N đang ở Nhật Bản nhờ mẹ đẻ là bà Vũ Thị T chăm sóc cháu Đ cho đến khi chị N về nước, anh H và bà T nhất trí.
- Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Anh chị không yêu cầu Toà án giải quyết;
- Về lệ phí dân sự: Anh H tự nguyện chịu toàn bộ lệ phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Vũ Thị T trình bày: Bà đã nhận được thông báo thụ lý vụ án về việc công nhận thuận tình ly hôn giữa anh Tô Văn H và chị Nguyễn Thị N. Chị N có nguyện vọng nuôi dưỡng con chung Tô Hải Đ, sinh ngày 18/3/2012. Chị N đang lao động ở Nhật Bản nhờ bà thay chị N chăm sóc cháu Đ cho đến khi chị N về nước, bà nhất trí.
Tại phiên họp anh H, chị N có quan điểm xin vắng mặt tại phiên họp và giữ nguyên quan điểm đề nghị Tòa án công nhận thuận tình ly hôn; Anh L, bà T có quan điểm xin vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương phát biểu quan điểm:
- - Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Thư ký, các đương sự đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- - Về quan điểm giải quyết việc: Đề nghị Tòa án áp dụng Điều 55, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- - Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa anh Tô Văn H và chị Nguyễn Thị N; Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị N được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung Tô Hải Đ, sinh ngày 18/3/2012 cho đến khi trưởng thành. Công nhận sự thỏa thuận của anh H, chị N về việc chị N không yêu cầu anh H cấp dưỡng tiền nuôi con chung; Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên không giải quyết; Về lệ phí: Anh Tô Văn H tự nguyện chịu 300.000 đồng lệ phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc hôn nhân và gia đình được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương nhận định:
[1]. Về tố tụng: Anh Tô Văn H và chị Nguyễn Thị N có đơn đề nghị Tòa án công nhận thuận tình ly hôn. Chị Nguyễn Thị N hiện đang sinh sống và làm việc tại Nhật Bản, anh Tô Văn H có địa chỉ tại thành phố C, tỉnh Hải Dương. Do vậy, việc dân sự yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn của anh H, chị N thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương, theo quy định tại khoản 2 Điều 29, điểm b khoản 1 Điều 37, điểm h khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Chị Nguyễn Thị N không trực tiếp tham gia tố tụng tại Tòa án nhưng đã ủy quyền cho anh Đặng Thái L ở Việt Nam thay mặt chị N giao nộp các tài liệu, gồm: Đơn yêu cầu giải quyết việc hôn nhân gia đình, bản tự khai, giấy ủy quyền. Các văn bản của chị Nguyễn Thị N đều được xác nhận và hợp pháp hóa lãnh sự tại Đ1 tại Nhật Bản. Do vậy, các tài liệu này là hợp pháp.
Anh H, chị N, anh L, bà T đều đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành mở phiên họp giải quyết việc dân sự vắng mặt các đương sự theo thủ tục chung.
[2]. Về nội dung:
[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Anh Tô Văn H và chị Nguyễn Thị N được tự do tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện C (nay là phường V, thành phố C), tỉnh Hải Dương ngày 27/8/2008, do vậy hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2014, chị N đã đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản, năm 2017 anh H đi lao động ở Đài Loan và đến năm 2022 anh H đã về Việt Nam hẳn, còn chị N vẫn tiếp tục lao động ở Nhật Bản. Do xa cách nên vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, không còn quan tâm, chia sẻ với nhau trong cuộc sống. Xét thấy, tình trạng hôn nhân giữa anh H và chị N mâu thuẫn đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, các đương sự cùng xác định tình cảm vợ chồng không còn nên cần chấp nhận yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn của anh H và chị N là phù hợp với quy định tại Điều 55 Luật Hôn nhân và Gia đình.
[2.2]. Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung Tô Hải Đ, sinh ngày 18/3/2012, con chung có nguyện vọng được ở với mẹ. Ly hôn anh chị thống nhất thỏa thuận để chị N được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung cho đến khi trưởng thành, anh chị tự thỏa thuận về việc cấp dưỡng tiền nuôi dưỡng con chung. Trong thời gian chị N đang lao động ở Nhật Bản, chị N nhờ mẹ đẻ là bà Vũ Thị T thay chị N chăm sóc cháu Đ cho đến khi chị N về nước, anh H, bà T nhất trí. Xét thấy, nội dung thoả thuận của các đương sự phù hợp với quy định của pháp luật, phù hợp với điều kiện thực tế, đảm bảo điều kiện tốt nhất cho các con, do đó cần chấp nhận thỏa thuận của các đương sự.
Anh Tô Văn H được được quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở là phù hợp với quy định tại Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình.
[2.3]. Về tài sản chung, nợ chung: Anh H, chị N không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.
[3]. Về lệ phí ly hôn sơ thẩm: Anh Tô Văn H tự nguyện chịu 300.000 đồng lệ phí ly hôn sơ thẩm.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 55, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 2 Điều 29, điểm b khoản 1 Điều 37, điểm h khoản 2 Điều 39, Điều 149, Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật Phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh Tô Văn H và chị Nguyễn Thị N.
2. Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị N được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung Tô Hải Đ, sinh ngày 18/3/2012 từ tháng 11/2024 cho đến khi trưởng thành. Anh H không phải cấp dưỡng tiền nuôi dưỡng con chung cùng chị N.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về lệ phí ly hôn sơ thẩm: Anh Tô Văn H tự nguyện chịu lệ phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng, được đối trừ số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp theo Biên lai thu số 0005188 ngày 04 tháng 10 năm 2024 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương (anh L đã thay anh H thực hiện xong).
4. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm./.
Nơi nhận:
| THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Nguyễn Xuân Trường |
Quyết định số 92/2024/QÐST-HNGĐ ngày 11/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con
- Số quyết định: 92/2024/QÐST-HNGĐ
- Quan hệ pháp luật: Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/11/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tô Văn H - Nguyễn Thị L thuận tình ly hôn
