Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN BÌNH THẠNH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                       

Bản án số: 916/2025/DS-ST

Ngày: 19/6/2025

V/v: Tranh chấp đòi tài sản

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hà

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Lâm Thị Hoàng Oanh

2. Bà Nguyễn Thị Nhơn

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Vũ Mỹ Linh - Thư ký Toà án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Giang.

Ngày 19 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai đối với vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 1202/2024/TLST-DS, ngày 05 tháng 06 năm 2024 về việc “Tranh chấp đòi tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 110/2025/QĐXXST-DS ngày 02/04/2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 98/2025/QĐST-DS ngày 23/4/2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 162/2025/QĐST-DS ngày 21/5/2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Mai Thanh B, sinh năm 1965 (có mặt)

Cư trú: 86 Đường số B Cư xá C, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị đơn: Ông Trương Xuân Tân T, sinh năm 1978 (vắng mặt)

Cư trú: B Đ, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Bà Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1976 (có mặt)

Cư trú: 86 Đường số B, Cư xá C, Phường B, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

2/ Bà Trần Thị Thanh T1, sinh năm 1990 (vắng mặt)

Cư trú: B Đ, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 22/05/2024, bản tự khai và các biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải, nguyên đơn- ông Mai Thanh B trình bày:

Vào năm 2018 tôi có mua căn nhà tại D Nơ Trang Long P Quận B do ông P (đã chết) bán. Sau đó ông P giới thiệu tôi ông Trương Xuân Tân T là một chủ đầu tư bất động sản lớn ở quận B. Được biết ông T là người làm ăn đàng hoàng uy tín nên năm 2019 tôi có mua một căn nhà tại quốc lộ A, Phường B, quận B theo hình thức khi ông T có miếng đất đã phân lô xong, tôi ký hợp đồng đặt cọc với ông T số tiền từ 600.000.000 đồng, lý do cần đặt số tiền nhiều như vậy vì ông T bán giá rất rẻ so với thị trường và ông T cũng cần tiền để xây nhà, sổ đỏ lô đất ông T cũng cầm ngân hàng để lấy tiền đầu tư thêm. Sau khi hoàn công nhà xong, ông T sẽ bỏ tiền rút sổ từ ngân hàng làm thủ tục mua bán sang tên cho tôi, lúc đó tôi sẽ thanh toán số tiền còn lại như hợp đồng đặt cọc, đến năm 2020 tôi cũng mua của ông T 1 căn tại phường B như hình thức trên. Trong thời gian này ông T rất uy tín, mua bán đàng hoàng thời gian giao nhà đúng cam kết, kể cả có vay mượn của tôi một số lần chừng vài chục triệu cũng trả đúng hẹn.

Vào tháng 5/5021 ông T nói có miếng đất rất đẹp tại QL13 phường H đã đặt cọc với chủ đất (có hợp đồng và bản vẽ phân lô cho tôi xem), sau đó tôi đặt cọc số tiền mua 1 lô là: 300.000.000 đồng, chuyển cho ông T ngày 05/05/2021. Tuy vậy khoảng hơn 1 tuần sau, ông T có thông báo là chủ đất thay đổi không muốn bán và đã trả lại tiền cọc nhưng vì có việc gấp nên hứa 10 ngày sau trả lại tiền cọc cho tôi. Đến hẹn tôi có đòi nhưng ông T lấy lý do đang đầu tư đất tại Đ, Phường A, quận B nên chuyển thành tiền mượn nợ.

Vào tháng 11/2021 tôi có mua ông T một căn nhà đường N, phường A, quận B tiền mua nhà tôi đã trả đủ và có cho ông Trương Xuân T2 T mượn số tiền mặt là: 600.000.000 đồng vào ngày 19/11/2021 để ông T nộp vào ngân hàng N (A) để xóa thế chấp căn nhà trên sau đó bán cho tôi, ông T cũng làm giấy xác nhận việc này.

Sau một khoảng thời gian thương lượng, ngày 30/11/2021 tôi và ông T thống nhất gộp hai khoản nợ trên và ông T làm biên bản xác nhận nợ và cam kết trả nợ ngày 30/11/2021 với số tiền nợ là 900.000.000 đồng, cam kết ngày 15/01/2022 trả (ông T cũng thu hồi giấy mượn 600.000.000 đồng trước đó). Tuy vậy đến ngày 15/01/2022 tôi đã tìm gặp ông T và nhiều lần sau đó, ông T rất nhiều lần hứa hẹn vẫn không trả cho tôi. Bây giờ tôi gọi và nhắn tin không trả lời.

Do tôi mua bán và đưa tiền đều thỏa thuận với ông Trương Xuân Tân T mà không có sự chứng kiến hay nhận tiền của vợ ông Trương Xuân Tân T là bà Trần Thị Thanh T1, do đó vợ chồng tôi không yêu cầu bà Trần Thị Thanh T1 phải liên đới với ông T trả nợ cho tôi.

Nay tôi đồng ý ông Trương Xuân Tân T phải trả cho tôi số tiền còn nợ là 900.000.000 đồng hạn chót vào ngày 31/7/2025 trả hết nợ, do việc kinh doanh ông T gặp nhiều khó khăn nên tôi không yêu cầu trả tiền lãi.

Theo đơn khởi kiện ngày 22/5/2024 tôi đã khởi kiện ông Trương Xuân Tân T tại Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh yêu cầu ông T phải trả số tiền đã vay là 900.000.000 đồng, do hoàn cảnh ông T hiện nay khó khăn nên tôi không yêu cầu trả lãi. Vì đây là khoản nợ riêng của ông T đã vay của tôi theo Biên bản xác nhận nợ và cam kết trả nợ ngày 30/11/2021. Do đó, tôi chỉ yêu cầu ông Trương Xuân Tân T trả nợ cho tôi. Tôi không yêu cầu bà Trần Thị Thanh T1 phải liên đới với ông T trả nợ. Đồng thời tôi cũng không có chứng cứ là giấy chứng nhận kết hôn của ông Trương Xuân Tân T và bà Trần Thị Thanh T1 nên tôi cũng không biết chính xác bà Trần Thị Thanh T1 là vợ hợp pháp của ông Trương Xuân Tân T. Đây là tài sản riêng của tôi không liên quan đến bà Nguyễn Thị Thu H nên bà H không yêu cầu gì.

Bị đơn ông Trương Xuân Tân T trình bày:

Tháng 5/2021 tôi có mua bán một thửa đất quốc lộ 13 với anh B là 300.000.000 đồng. Hai bên đã tất toán công việc mà tôi chưa thanh toán lại cho anh B. Tháng 11/2021 tôi có bán thêm một căn nhà đường N và tôi còn nợ lại số tiền là 600.000.000 đồng. Tôi thống nhất nợ anh B hai khoản tiền là 900.000.000 đồng. Tôi và ông Mai Thanh B có lập biên bản xác nhận nợ và cam kết trả nợ ngày 30/11/2021 với số tiền nợ là 900.000.000 đồng. Tôi xin đồng ý thanh toán số tiền còn nợ 900.000.000 đồng cho anh B hạn chót là 31/07/2025 trả hết nợ.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thu H trình bày:

Theo đơn khởi kiện ngày 22/5/2024 chồng tôi đã khởi kiện ông Trương Xuân Tân T tại Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh yêu cầu ông T phải trả số tiền là 900.000.000 đồng, do hoàn cảnh ông T hiện nay khó khăn nên chồng tôi không yêu cầu trả lãi. Vì đây là khoản nợ riêng của ông T với chồng tôi theo Biên bản xác nhận nợ và cam kết trả nợ ngày 30/11/2021. Do đó, chồng tôi chỉ yêu cầu ông Trương Xuân Tân T trả nợ. Chồng tôi không yêu cầu bà Trần Thị Thanh T1 phải liên đới với ông T trả nợ. Đồng thời chồng tôi cũng không có chứng cứ là giấy chứng nhận kết hôn của ông Trương Xuân Tân T và bà Trần Thị Thanh T1 nên không biết chính xác bà Trần Thị Thanh T1 là vợ hợp pháp của ông Trương Xuân Tân T. Tôi đồng ý với ý kiến của chồng tôi là ông Mai Thanh B chỉ yêu cầu ông Trương Xuân Tân T trả số tiền 900.000.000 đồng cho chồng tôi là ông Mai Thanh B. Tôi xác nhận đây là tài sản riêng của chồng tôi ông Mai Thanh B nên tôi không có yêu cầu gì.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị Thanh T1:

Toà án nhân dân quận Bình Thạnh đã tiến hành triệu tập hợp lệ đến Tòa để làm bản khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải, xét xử vụ án theo quy định của pháp luật, nhưng vẫn vắng mặt không lý do trong suốt quá trình tố tụng.

* Tại phiên toà:

  • - Nguyên đơn: Ông B yêu cầu ông Trương Xuân Tân T phải trả lại số tiền 900.000.000 đồng, do hoàn cảnh ông T hiện nay khó khăn nên ông B không yêu cầu trả lãi. Vì đây là khoản nợ riêng của ông T, nên ông B chỉ yêu cầu ông Trương Xuân Tân T trả làm một lần ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật. Ông B không yêu cầu bà Trần Thị Thanh T1 phải liên đới với ông T trả tiền.
  • - Bị đơn: Đã được Tòa án triệu tập để tham gia giải quyết vụ án nhưng phía bị đơn vẫn vắng mặt không có lý do.
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thu H: Bà H đồng ý với ý kiến của chồng là ông Mai Thanh B chỉ yêu cầu ông Trương Xuân Tân T trả số tiền 900.000.000 đồng còn nợ cho ông Mai Thanh B. Bà H xác nhận đây là tài sản riêng của ông Mai Thanh B nên không có yêu cầu gì.
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị Thanh T1: Đã được Tòa án triệu tập để tham gia giải quyết vụ án nhưng vẫn vắng mặt không có lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh phát biểu:

  1. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán:

    Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến trước khi xét xử thấy rằng Thẩm phán đã thực hiện đúng nội dung quy định tại Điều 48 của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Cụ thể:

    Thẩm phán xác định đúng quan hệ tranh chấp, đúng thẩm quyền giải quyết của Tòa án, xác định vụ kiện thuộc trường hợp Viện kiểm sát tham gia phiên tòa; Việc cấp, tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng cho đương sự và Viện kiểm sát thực hiện theo đúng quy định từ Điều 170 đến Điều 181 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Tòa án tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ đúng theo quy định tại Điều 209, 210, 211 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Về án phí: Nguyên đơn nộp tiền tạm ứng án phí sơ thẩm theo đúng quy định của pháp luật. Thời hạn chuẩn bị xét xử: Chưa đảm bảo theo Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

  2. Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa:

    Hội đồng xét xử, thư ký đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.

  3. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự:

    Trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Đối với nguyên đơn: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với bị đơn: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm

nay không thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 72, 73 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án:

Căn cứ Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ Điều 463, Điều 470 Bộ luật dân sự năm 2015; Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn: Buộc bị đơn trả cho nguyên đơn số tiền 900.000.000 đồng. Về án phí sơ thẩm: Bị đơn phải đóng án phí.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Xét, giữa nguyên đơn và bị đơn có thỏa thuận xuất phát từ tiền đặt cọc mua bán nhà và tiền để hoàn thiện nhà dẫn đến hai bên cộng dồn hai khoản tiền để ký Biên bản xác nhận nợ và cam kết trả nợ ngày 31/11/2021, như vậy bản chất quan hệ tranh chấp này không phải là vay tài sản nên cần xác định lại quan hệ tranh chấp là đòi tài sản. Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 đây là loại vụ việc tranh chấp về hợp đồng dân sự; bị đơn cư trú tại quận B nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân quận Bình Thạnh.

[2] Về thủ tục tố tụng:

- Toà án đã tống đạt thông báo thụ lý, tiến hành triệu tập hợp lệ bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến Toà để làm bản khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải, xét xử vụ án. Phiên toà được mở lần thứ 03 nhưng bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vẫn vắng mặt không có lý do. Việc bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt không làm ảnh hưởng đến nội dung tranh chấp nên Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng Dân sự, quyết định tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[3] Về yêu cầu của các đương sự:

Nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả lại số tiền là 900.000.000 đồng, không yêu cầu trả lãi.

Hội đồng xét xử xét:

Căn cứ lời khai tại phiên tòa của nguyên đơn và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có cơ sở xác định: Giữa nguyên đơn và bị đơn có thỏa thuận xuất phát từ tiền đặt cọc mua bán nhà và tiền để hoàn thiện nhà, nên dẫn đến hai bên đã ký Biên bản xác nhận nợ và cam kết trả nợ ngày 31/11/2021, cụ thể: ngày

05/5/2021 nguyên đơn đã chuyển khoản số tiền đặt cọc mua bán nhà ở quốc lộ A, phường H, Thành phố T là 300.000.000 đồng vào tài khoản bị đơn (Sổ phụ chi tiết kiêm báo nợ/báo có). Do không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng đặt cọc này nên bị đơn đồng ý sẽ trả lại tiền cọc cho nguyên đơn. Đồng thời, nguyên đơn và bị đơn có thỏa thuận mua bán nhà ở N, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, hai bên thỏa thuận nguyên đơn đưa bị đơn số tiền là 600.000.000 đồng để hoàn thiện nhà xong sẽ bán cho nguyên đơn, mặc dù nguyên đơn đã mua nhà này nhưng bị đơn chưa trả lại tiền 600.000.000 đồng cho nguyên đơn.

Đồng thời bản tự khai của bị đơn tại Tòa án cũng đồng ý trả lại cho nguyên đơn số tiền là 900.000.000 đồng vào ngày 31/7/2025. Tuy nhiên, cho đến nay bị đơn vẫn không thực hiện như cam kết, mặc dù nguyên đơn đã nhắc nhở nhiều lần và tạo điều kiện trả nợ cho bị đơn. Vì vậy, xét thấy nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả lại số tiền đã nhận là 900.000.000 đồng cho nguyên đơn là phù hợp theo quy định tại Điều 166 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Về trả lãi chậm thanh toán: Do nguyên đơn không yêu cầu bị đơn trả lãi nên Hội đồng xét xử không xét.

- Đối với bà Trần Thị Thanh T1: Xét nguyên đơn không yêu cầu bà Trần Thị Thanh T1 phải liên đới với ông T trả nợ cho nguyên đơn, đồng thời cũng không có tài liệu chứng cứ là giấy chứng nhận kết hôn của ông Trương Xuân Tân T và bà Trần Thị Thanh T1 nên không biết chính xác ông Trương Xuân Tân T và bà Trần Thị Thanh T1 là vợ chồng hợp pháp, xét đây là ý chí tự nguyện của ông B phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

- Đối với bà Nguyễn Thị Thu H: Bà H là vợ của ông Mai Thanh B: Ông Mai Thanh B và bà Nguyễn Thị Thu H1 đều xác nhận ông B có đưa cho ông T tổng số tiền 900.000.000 đồng là tài sản riêng của ông B, nên bà H không yêu cầu gì đối với ông Trương Xuân Tân T nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Đối với bị đơn: vắng mặt không có lý do tại phiên toà hôm nay, mặc dù toà án đã tiến hành tống đạt hợp lệ cho phía bị đơn. Như vậy, bị đơn đã tự từ bỏ quyền tranh tụng tại toà để bảo vệ quyền lợi cho mình nên Hội đồng xét xử không có cơ sở để xem xét cho quyền lợi của bị đơn.

[4] Về phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh:

Hội đồng xét xử xét thấy, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh đã nhận định đúng về thủ tục tố tụng và nội dung của vụ án. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh về việc giải quyết vụ án là đúng quy định pháp luật nên có cơ sở chấp nhận.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm:

Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí trên số tiền phải trả cho nguyên đơn. Nguyên đơn không phải chịu án phí nên được nhận lại toàn bộ số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ Luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 166 Bộ luật Dân sự 2015;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Mai Thanh B.
  2. Ông Trương Xuân Tân T phải trả cho ông Mai Thanh B số tiền là 900.000.000 đồng làm một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

    Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

  3. Về án phí:
    1. Ông Trương Xuân Tân T phải chịu án phí sơ thẩm là 39.000.000 đồng.
    2. Ông Mai Thanh B được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 19.500.000 đồng theo biên lai thu số 0023952 ngày 04/06/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thạnh.

    Việc thi hành án được thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

  4. Quyền kháng cáo:

    Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên toà hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. HCM;
  • - VKSND quận Bình Thạnh;
  • - THADS quận Bình Thạnh;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thu Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Quyết định số 916/2025/DS-ST ngày 19/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp đòi tài sản

  • Số quyết định: 916/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp đòi tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger