Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH


Số: 898/2020/QĐ-PT
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 21 tháng 9 năm 2020

QUYẾT ĐỊNH
GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI
QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Nhung
Các Thẩm phán: 1/ Bà Đặng Thị Bích Loan
2/ Bà Võ Thị Mỹ Hạnh

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Cao Hoàng Thắng – Kiểm sát viên.

Tại quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 605/2020/QĐST-HNGĐ ngày 28/7/2020 Tòa án nhân dân Quận X, Thành phố Hồ Chí Minh đã căn cứ vào các Điều 48, điểm h khoản 1 Điều 217, khoản 1, khoản 3 Điều 218, Điều 219, khoản 2 Điều 273, khoản 2 Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và điểm c, khoản 2 Điều 6 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự về việc “Ly hôn” giữa:

Nguyên đơn:Tăng Thị Tú T, sinh năm 1987;
Địa chỉ thường trú: Số 7, ấp 6, xã S, huyện D, tỉnh N.
Địa chỉ liên lạc: 118/63 Đường P, Phường A, Quận X, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị đơn: Ông Võ Thành N, sinh năm 1984;
Địa chỉ: 7/19 Đường B (Số cũ 18/17 Đường C), Phường A, Quận X, Thành phố Hồ Chí Minh.

Tại đơn kháng cáo nhận ngày 7/8/2020, nguyên đơn bà Tăng Thị Tú T kháng cáo toàn bộ quyết định đình chỉ với lý Quyết định đình chỉ của Tòa án nhân dân Quận X đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, căn cứ đình chỉ không phù hợp với quy định của pháp luật, ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của bà. Bà T yêu cầu cấp phúc thẩm hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 605/2020/QĐST-HNGĐ ngày 28/7/2020 Tòa án nhân dân Quận X, Thành phố Hồ Chí Minh để tiếp tục giải quyết vụ án.

XÉT THẤY:

Tại đơn khởi kiện và Đơn cam kết địa chỉ cư trú người bị kiện cùng ngày ngày 20/4/2020, bà Tăng Thị Tú T cung cấp địa chỉ của bị đơn ông Võ Thành N là 18/17 Đường C (số mới 7/19 Đường B), Phường A, Quận X, Thành phố Hồ Chí Minh. Theo kết quả xác minh của Công an Phường A, Quận X, Thành phố Hồ Chí Minh thì “đương sự Võ Thành N, sinh năm 1984 có đăng ký HKTT tại 7/19 Đường B, Phường A, Quận X (số cũ 18/17 CMT8, Phường A, Quận X) từ tháng 6/1984 nhưng thực tế không cư trú từ năm 2013, nhà đã bán”.

Trong vụ án này, ông Võ Thành N đã không còn cư trú tại địa phương từ năm 2013 trước khi bà T khởi kiện. Ông N không thuộc một trong các trường hợp bắt buộc phải khai báo tạm vắng với chính quyền địa phương khi đi khỏi nơi cư trú theo quy định tại Điều 32 Luật Cư trú (sửa đổi, bổ sung năm 2013), ông N chỉ có nghĩa vụ đăng ký tạm trú hoặc thay đổi hộ khẩu thường trú tại địa chỉ sinh sống hoặc làm việc mới. Nội dung công văn và nội dung tin nhắn bà T cung cấp không thể hiện rõ sau khi đi khỏi nơi đăng ký hộ khẩu thường trú, ông N biết hay không biết việc bà T khởi kiện. Do đó, không có căn cứ để cho rằng ông N đi khỏi nơi cư trú mà không thông báo địa chỉ mới cho bà T là nhằm trốn tránh nghĩa vụ.

Cũng theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 142 Bộ luật Tố tụng dân sự thì điều kiện để Tòa án tiếp tục thụ lý, giải quyết vụ án với trường hợp cố tình giấu địa chỉ là khi người khởi kiện đã ghi “đầy đủ và đúng” địa chỉ nơi cư trú, làm việc của người bị kiện. Theo quy định tại khoản 2 Điều 5 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, người khởi kiện được xem là ghi đúng địa chỉ của người bị kiện khi đã cung cấp địa chỉ của người bị kiện “tại thời điểm khởi kiện” được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cấp, xác nhận hoặc có căn cứ khác chứng minh rằng đó là địa chỉ của người bị kiện.

Điều 12 Luật Cư trú (sửa đổi, bổ sung năm 2013) quy định “Nơi cư trú của công dân là chỗ ở hợp pháp mà người đó thường xuyên sinh sống”. Trong trường hợp này, ông Võ Thành N được Công an Phường A, Quận X xác nhận “thực tế không cư trú từ năm 2013”. Khi khởi kiện, ông N không có mặt tại nơi cư trú, bà Trịnh cũng không biết trên thực tế ông N cư trú ở đâu. Do đó, bà T ghi địa chỉ nơi đăng ký hộ khẩu thường trú của ông N khi thực tế ông N không sinh sống ở đó là không đúng, không được xem là đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú của người bị kiện.

Vụ án này giải quyết tranh chấp phát sinh từ quan hệ hôn nhân gia đình; không phải là quan hệ hợp đồng hay giao dịch dân sự; do đó việc áp dụng điểm a, khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP để giải quyết vụ án là không đúng.

Sau khi Tòa án thụ lý vụ án, việc xác minh địa chỉ của ông N không có kết quả và hết thời hạn quy định bà Trịnh không cung cấp được địa chỉ nơi cư trú của ông Danh. Trường hợp này, nếu Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án với lý do người bị kiện cố tình giấu địa chỉ, tiến hành niêm yết và xử vắng mặt bị đơn sẽ làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông N. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đình chỉ giải quyết vụ án theo quy định tại điểm c, Khoản 2 Điều 6 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao là có căn cứ.

Căn cứ điểm a, khoản 5 Điều 314 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

QUYẾT ĐỊNH

  1. Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 605/2020/QĐST-HNGĐ ngày 28/7/2020 Tòa án nhân dân Quận X, Thành phố Hồ Chí Minh.
  2. Án phí dân sự phúc thẩm: 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng bà Tăng Thị Tú T phải chịu, cấn trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số AA/2019/0068117 ngày 07/8/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận X, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà T đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.
  3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.
Nơi nhận:
  • - Tòa án nhân dân cấp cao tại TPHCM;
  • - Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại TPHCM;
  • - Viện Kiểm sát nhân dân TPHCM;
  • - Toà án nhân dân Quận X,TPHCM;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự Quận X, TPHCM;
  • - Cục Thi hành án dân sự TPHCM;
  • - Đương sự;
  • - Lưu.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA





Trần Thị Nhung
THẨM PHÁN THẨM PHÁN THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đặng Thị Bích Loan Võ Thị Mỹ Hạnh Trần Thị Nhung
THÔNG TIN BẢN ÁN

Quyết định số 898/2020/QĐ-PT ngày 21/09/2020 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về ly hôn

  • Số quyết định: 898/2020/QĐ-PT
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 21/09/2020
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger