TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 88/2023/HNGĐ-ST
Ngày 11/8/2023
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Giáp Thị Loan
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Thụ
- Ông Nguyễn Hữu Thái
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Đức Tùng - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 49/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 02 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 80/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 6 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 49/2023/QĐST-DS ngày 14/7/2023, giữa:
- Nguyên đơn: Anh Vũ Đức H, sinh năm 1983 (có mặt)
- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1982 (có mặt)
HKTT: Thôn H, xã Ch, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.
HKTT: Thôn H, xã Ch, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.
Chỗ ở hiện nay: Thôn Chính Thượng, xã Lan Mẫu, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện, biên bản lấy lời khai và trong quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án nguyên đơn là anh Vũ Đức H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Nguyễn Thị N kết hôn ngày 16/12/2002 trên cơ sở tự nguyện. Trước khi kết hôn có tìm hiểu nhau và tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Chu Điện, huyện Lục Nam. Hai người sống hạnh phúc một thời gian và đã có hai con chung là cháu Vũ Đức H, sinh ngày 05/10/2003 và cháu Vũ Xuân N, sinh ngày 03/5/2013.
Nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là: Từ tháng 11 năm 2007 vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, hai vợ chồng thường xuyên cãi vã, anh có đánh chị N vài lần. Việc này hai bên gia đình đều biết, có can ngăn, khuyên bảo, động viên nhưng không thành. Đến cuối tháng 5/2022 chị N đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ, hai vợ chồng ly thân từ đó cho đến nay. Xác định tình cảm vợ chồng đã hết, nên anh đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn chị N.
- Về con chung: Anh và chị N có hai con chung như trình bày ở trên. Cháu H đã trưởng thành, anh không đề nghị Tòa án giải quyết. Cháu N có nguyện vọng được ở với mẹ, anh đồng ý theo nguyện vọng của con để cho chị N được nuôi dưỡng cháu N.
Về cấp dưỡng nuôi con: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn chị Nguyễn Thị N trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị công nhận điều kiện kết hôn, thời gian kết hôn như anh H trình bày là đúng.
Nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do: Sau khi anh H đi tù về thường xuyên đánh đập, chửi mắng chị, cho rằng chị ngoại tình dẫn đến vợ chồng bất đồng quan điểm sống, chị đã về nhà bố mẹ đẻ ở từ tháng 5/2022, vợ chồng ly thân từ đó đến nay, không ai quan tâm đến ai. Nay xác định vợ chồng không còn tình cảm, anh H xin ly hôn, chị đồng ý.
- Về con chung: Chị và anh H có hai con chung như anh H trình bày là đúng. Trường hợp phải ly hôn, cháu H đã trưởng thành chị không yêu cầu giải quyết, chị có nguyện vọng được nuôi dưỡng cháu N.
Hiện tại cháu N đang ở cùng chị, do chị chăm sóc, giáo dục. Chị có công việc, thu nhập ổn định tại Công ty cổ phần may Năm Châu, mức thu nhập từ 10.000.00-11.000.000đ/tháng.
- Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Tại phiên tòa, anh H không rút đơn khởi kiện, tại phần tranh luận các đương sự có ý kiến trình bày như sau:
- Nguyên đơn anh Vũ Đức H trình bày: Anh vẫn giữ nguyên yêu cầu đề nghị được giải quyết ly hôn với chị N. Về con chung: Chị N có nguyện vọng nuôi cháu N anh đồng ý. Các nội dung khác anh giữ nguyên ý kiến đã nêu.
- Bị đơn chị Nguyễn Thị N trình bày: Trong quá trình giải quyết vụ án, chị N có trình bày vợ chồng có mâu thuẫn như trên nhưng vì con cái, chị không muốn ly hôn nên không đồng ý ly hôn. Tại phiên tòa hôm nay, anh H vẫn kiên quyết đề nghị được ly hôn, chị thấy tình cảm vợ chồng không còn nên đồng ý ly hôn. Về con chung: Chị và anh H có hai con chung như nêu trên. Cháu H đã trưởng thành, anh chị không đề nghị Tòa án giải quyết. Cháu N, sinh ngày 03/5/2013, hiện đang học lớp 4B1 trường tiểu học Chu Điện số 2. Chị và anh H khi có ý kiến tranh luận đã thống nhất giao cháu N cho chị N nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con và tài sản chung, công nợ chung: Anh H và chị N không yêu cầu giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm, phát biểu ý kiến:
Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến trước khi mở phiên tòa Thẩm phán và Thư ký tòa án tuân theo đúng trình tự tố tụng. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử sơ thẩm thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về phía nguyên đơn và bị đơn đã chấp hành đúng các quy định Bộ luật tố tụng dân sự.
Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều: 51, 56, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình; các Điều: 28, 227, 228, 147, 271, và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về xử lý án phí, lệ phí:
Về quan hệ hôn nhân: Cho anh Vũ Đức H ly hôn với chị Nguyễn Thị N.
Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị N trực tiếp nuôi con Vũ Xuân N, sinh ngày 03/5/2013 đến khi con chung đủ 18 tuổi. Anh H được quyền thăm nom con chung theo quy định.
Về án phí: Anh H phải chịu 300.000 đồng tiền án nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa và ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam. Sau khi thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về thủ tục tố tụng:
- Về quan hệ pháp luật: Anh Vũ Đức H có đơn đề nghị giải quyết ly hôn với chị Nguyễn Thị N nên căn cứ vào khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự xác định quan hệ pháp luật là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.
- Về thẩm quyền giải quyết vụ án:
- Về nội dung:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh Vũ Đức H và chị Nguyễn Thị N kết hôn năm 2002, trên cơ sở tự nguyện. Trước khi kết hôn có tìm hiểu nhau và tự nguyện đang ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Chu Điện, huyện Lục Nam theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình. Do vậy đây là hôn nhân hợp pháp. Anh H và chị N đã sống hạnh phúc một thời gian và có hai con chung là: Vũ Đức H, sinh ngày 05/10/2003 và con Vũ Xuân N, sinh ngày 03/5/2013.
- Về con chung: Anh H và chị N có hai con chung: Vũ Đức H, sinh ngày 05/10/2003 và con Vũ Xuân N, sinh ngày 03/5/2013. Tại phiên tòa anh H và chị N thỏa thuận để chị Nguyễn Thị N trực tiếp nuôi con Vũ Xuân N, sinh ngày 03/5/2013. Xét thấy: Việc thỏa thuận nuôi con của các đương sự là hoàn toàn tự nguyện, không trái pháp luật. Do đó cần công nhận sự thỏa thuận của các đương sự: Giao cho chị Nguyễn Thị N trực tiếp nuôi con Vũ Xuân N, sinh ngày 03/5/2013.
- Về tài sản chung, công nợ chung: Các bên đương sự tự thỏa thuận và không yêu cầu giải quyết, nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
- Về án phí: Anh H là nguyên đơn xin chịu án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân gia đình 150.000 đồng.
- Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Chị Nguyễn Thị N là bị đơn có địa chỉ cư trú tại huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của BLTTDS thì tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.
Nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do từ năm 2007 đến nay anh H và chị N phát sinh nhiều mâu thuẫn, hay xảy ra cãi nhau, không ai bảo được ai, không cùng chung quan điểm sống, tình cảm vợ chồng không còn. Đến tháng 5/2022 thì anh H và chị N chính thức sống ly thân. Hai bên gia đình đã hòa giải, động viên anh H và chị N về chung sống đoàn tụ, nhưng không có kết quả. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã hòa giải để các bên về đoàn tụ, nhưng anh H vẫn kiên quyết đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn; hiện tại anh H và chị N đang sống ly thân. Tại phiên tòa, anh H và chị N thống nhất thuận tình ly hôn. Như vậy anh H và chị N đã vi phạm N vụ vợ chồng. Chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, không còn tình cảm với nhau, không có sự quan tâm chăm sóc nhau, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Căn cứ vào Điều 55 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử công nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh H và chị N là phù hợp.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Do các bên không yêu cầu, nên không đặt ra xem xét.
Sau khi ly hôn anh H có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở anh H thực hiện quyền này.
Vì lợi ích của người con, Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc buộc cấp dưỡng nuôi con, nếu sau này các đương sự có yêu cầu và theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều: 51, 55, 81 và 82 của Luật hôn nhân và gia đình;
Điều 28, Điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh Vũ Đức H và chị Nguyễn Thị N.
- Về con chung: Công nhận sự thỏa thuận của anh Vũ Đức H và chị Nguyễn Thị N: Giao cho chị Nguyễn Thị N trực tiếp nuôi con Vũ Xuân N, sinh ngày 03/5/2013.
- Về án phí: Anh Vũ Đức H chịu 150.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân gia đình, số tiền này được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng anh H đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0014366 ngày 14 tháng 02 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang. Trả lại anh H 150.000 đồng.
- Về quyền kháng cáo: Anh Vũ Đức H và chị Nguyễn Thị N có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Sau khi ly hôn anh H có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở anh H thực hiện quyền này.
Nơi nhận:
| T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Giáp Thị Loan |
Quyết định số 88/2023/HNGĐ-ST ngày 11/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số quyết định: 88/2023/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/08/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
