|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số 874/2024/HS-PT
Ngày 25/10/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: |
Ông Ong Thân T; |
Các Thẩm phán: |
Ông Nguyễn Hải T; Ông Phạm Việt H. |
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thùy T, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Lê Đỗ Q, Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 10 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn, Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 869/2024/TLPT-HS ngày 29 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo Linh Văn M. Do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 53/2024/HS-ST ngày 19 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn.
* Bị cáo có kháng cáo:
Linh Văn M, sinh ngày 10 tháng 01 năm 1966, tại huyện C, tỉnh Lạng Sơn; nơi đăng ký thường trú: Thôn N, xã X, huyện C, tỉnh Lạng Sơn; giới tính: Nam; dân tộc: Nùng; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 02/10; nghề nghiệp: Làm ruộng. Con ông Linh Văn T và bà Triệu Thị Đ (đều đã chết); có vợ là Vi Thị T1 và có 05 con. Tiền án, tiền sự: Không có.
Nhân thân: Năm 1988 bị Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội Buôn lậu trái phép hàng hóa qua biên giới (đã được xóa); chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/10/2023 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh L; có mặt.
* Người bào chữa cho bị cáo do Tòa án chỉ định:
- - Luật sư Chu Thị Nguyễn P, Văn phòng L1 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh L; Địa chỉ: Số nhà D, đường L, phường Đ, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn; có mặt.
- - Luật sư Nông Chí K, Văn phòng L2 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh L; Địa chỉ: Số nhà B, khu B, thị trấn L, huyện L, tỉnh Lạng Sơn; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 17 giờ ngày 30-7-2015, Tổ công tác Công an tỉnh L làm nhiệm vụ tại khu vực nhà nghỉ S, địa chỉ số C đường T, phường T, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn; qua kiểm tra hành chính đã phát hiện bắt quả tang Hoàng Văn B cất giấu trong người 05 bánh hình hộp chữ nhật bên trong chứa chất bột màu trắng.
Kết luận giám định số 155/PC54 ngày 31-7-2015 của Phòng K1 Công an tỉnh L kết luận: Chất bột màu trắng trong 05 (năm) bánh hình hộp chữ nhật thu giữ của Hoàng Văn B gửi giám định là chất ma tuý Heroine có tổng trọng lượng 1.757,3 gam (đã trừ bì); hàm lượng 66,3%.
Căn cứ lời khai của Hoàng Văn B và tài liệu thu thập được, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh L đã ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự và khởi tố bị can đối với Hoàng Văn B, Triệu Văn T2, Lộc Văn T3 và Linh Văn M về tội Mua bán trái phép chất ma túy.
Do Linh Văn M bỏ trốn khỏi địa phương, ngày 23-5-2016 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh L đã ra Quyết định truy nã, Quyết định tách vụ án hình sự và Quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự, tạm đình chỉ điều tra đối với Linh Văn M.
Ngày 19-8-2016, Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn đã xét xử đối với Hoàng Văn B, Triệu Văn T2 và Lộc Văn T3 về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 194 của Bộ luật Hình sự năm 1999.
Ngày 09-10-2023, Linh Văn M ra đầu thú nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh L đã ra Quyết định phục hồi điều tra vụ án và phục hồi điều tra đối với Linh Văn M.
Kết quả điều tra xác định được:
Khoảng 09 giờ ngày 25-7-2015, Linh Văn M gọi điện thoại nhờ Triệu Văn T2 mang 05 bánh ma túy Heroine mang lên biên giới V1 (khu vực giáp ranh xã C, huyện C, tỉnh Lạng Sơn) để bán cho người đàn ông Trung Quốc; với tiền công 50.000.000 đồng; Triệu Văn T2 đồng ý và rủ Lộc Văn T3 cùng tham gia, Lộc Văn T3 đồng ý; Triệu Văn T2 thông báo cho Linh Văn M biết việc này.
Linh Văn M điện thoại bảo Triệu Văn T2 đến khu vực K thuộc thôn P, xã C, huyện C, tỉnh Lạng Sơn để nhận ma túy. Khi đến nơi, Triệu Văn T2 thấy Linh Văn M lấy một bao tải dứa để ở gần đó và nói cho Triệu Văn T2 biết bên trong có 05 bánh ma túy Heroine. Linh Văn M cầm bao dứa có 05 bánh ma túy và bảo Triệu Văn T2 đi cùng lên đồi cách đường khoảng một đoạn để cất giấu ma túy vào bụi cỏ rậm rồi cả hai cùng về nhà Triệu Văn T2. Về đến nhà, Triệu Văn T2 nhận được điện thoại của Lộc Văn T3 bảo ra đường đón, Triệu Văn T2 đi bộ ra đón Lộc Văn T3 vào nhà rồi cả 03 người cùng ăn cơm với bố mẹ của Triệu Văn T2.
Sau khi ăn cơm xong, Linh Văn M bảo Triệu Văn T2 và Lộc Văn T3 ra ngoài sân nói chuyện. Linh Văn M cho Triệu Văn T2 và Lộc Văn T3 biết hiện có 05 bánh ma túy Heroine cần bán cho khách Trung Quốc, nếu T2 và T3 mang ma túy đi giao cho khách thì Linh Văn M sẽ trả tiền công cho mỗi người là 25.000.000 đồng; Triệu Văn T2 và Lộc Văn T3 đồng ý.
Sau đó, Triệu Văn T2 cùng Lộc Văn T3 đi đến địa điểm cất giấu ma túy, lấy bao tải dứa đựng 05 bánh ma túy Heroine mang lên khu vực biên giới V1 thuộc khu vực K, xã C, huyện C, tỉnh Lạng Sơn. Đến nơi thấy một người đàn ông Trung Quốc đứng chờ sẵn, Triệu Văn T2 bảo Lộc Văn T3 cầm ma túy đứng đợi còn T2 đến gặp người đàn ông đó. Sau khi trao đổi xác định đúng người đang đợi nhận ma túy, T2 dẫn người đàn ông đó đến chỗ T3 và bảo Trọng đưa bao tải dứa bên trong có 05 bánh ma túy Heroine cho người đàn ông này rồi cả hai đi về nhà T2.
Về đến nhà T2, Linh Văn M vẫn đang ở đó và hỏi đã giao được ma túy cho khách chưa, T2 và T3 đều trả lời đã giao được ma túy cho khách đồng thời đòi Linh Văn M trả tiền công; Linh Văn M bảo bán được ma túy sẽ trả tiền công. Nói chuyện được một lúc thì Linh Văn M nhận được điện thoại, sau khi nghe điện thoại xong, Linh V M bảo với T2 và Trọng quay lại khu vực biên giới để nhận lại ma túy vì chất lượng ma túy kém nên khách không mua. Do T2 và T3 không đồng ý đi nhận lại ma túy nên Linh Văn M đã tự đi nhận lại 05 bánh ma túy. Sau đó, Linh Văn M bảo Toàn cho cất giấu 05 bánh ma túy vào trong nhà nhưng T2 không đồng ý; Linh Văn M cất 05 bánh ma túy ở chuồng trâu nhà T2 rồi đi về nhà, còn Trọng ngủ lại nhà T2 đến chiều hôm sau mới về. Đến ngày 27-7-2015, Linh Văn M gọi điện thoại nói cho T2 biết Linh Văn M đã lấy 05 bánh ma túy ở chuồng trâu nhà T2 mang về nhà Linh Văn M.
Sáng ngày 29-7-2015, Triệu Văn T2 và Lộc Văn T3 đến nhà Hoàng Văn B chơi. Triệu Văn T2 nói cho B biết hiện đang có ma túy cần bán và bảo B tìm người mua. Hoàng Văn B tìm được khách mua tên T4 nhà ở phường T, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn nên đã thông báo lại cho T2 và T3 biết. Khoảng 18 giờ cùng ngày, T2 và T3 quay lại nhà B, T2 bảo B lấy xe máy của T3 chở T2 đến nhà Linh Văn M để lấy ma túy. Khi gần đến nhà Linh Văn M, T2 và B dừng xe chờ ở cạnh đường, một lúc sau Linh Văn M mang theo một túi nilon đựng 05 bánh ma túy Heroine giao cho T2 và B cất giấu vào trong cốp xe máy, T2 và B điều khiển xe quay về nhà của B. Khi về đến nhà, T2 bảo B điện thoại cho T4 đến mua ma túy nhưng T4 bảo hôm sau (tức 30-7-2015) Thượng mới đến được. Bột bảo Trọng mang 05 bánh ma túy đi cất giấu ở khu vực đồi phía sau nhà B.
Sáng ngày 30-7-2015, B thông báo cho T2 và T3 biết chiều 30-7-2015 T4 sẽ vào nhà B để kiểm tra ma túy. Bột bảo Trọng đi lên đồi lấy 05 bánh ma túy đã cất giấu mang về nhà B rồi đưa cho B tự cất giấu. Buổi chiều cùng ngày, T4 đi xe máy đến nhà B rồi cả bốn người (Thượng, B, T2, T3) cùng kiểm tra ma túy. T4 đồng ý mua 05 bánh ma túy với giá 200.000.000 đồng/bánh. T4 bảo B mang ma túy đi cùng T4 ra thành phố L để bán cho khách và bảo Toàn cùng T3 đi trước để trông đường. Tại thời điểm đó, mẹ của Lộc Văn T3 đến lấy xe máy, T2 và T3 không đi trông đường được nên đã đi về nhà, còn B cầm 05 bánh ma túy ngồi sau xe mô tô do T4 điều khiển đi ra thành phố L. Khi đi ra đến khu vực nhà nghỉ S, địa chỉ số C, đường T, phường T, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn thì T4 dừng xe bảo Bột chờ ở đó
để T4 đi lấy tiền. Bột xuống xe đứng chờ được khoảng vài phút thì bị lực lượng Công an kiểm tra, bắt quả tang. Khi biết Hoàng Văn B bị bắt, Lộc Văn T3 cùng Triệu Văn T2 trốn sang Trung Quốc làm thuê một thời gian, sau đó T3 và T2 đã đến Cơ quan Công an đầu thú.
Tại Cơ quan điều tra:
Hoàng Văn B, Triệu Văn T2, Lộc Văn T3 đều khai nhận diễn biến hành vi phạm tội như đã tóm tắt ở trên.
Đối với Linh Văn M: Sau khi ra đầu thú, tại biên bản ghi lời khai và biên bản hỏi cung ngày 09 và ngày 12-5-2024 bị cáo khai: Vào khoảng tháng 5/2015, bị cáo và Triệu Văn T2 đi cạo nhựa thông và có nhặt được 01 túi nilon màu đen bên trong có 05 bánh ma túy Heroine, bị cáo bảo Toàn cất giấu để tìm khách mua. Sau đó một thời gian, bị cáo đến nhà T2 thì gặp Lộc Văn T3 ở đó, T2 và T3 nói cho bị cáo biết đã tìm được khách Trung Quốc có nhu cầu mua ma túy, nếu bán được thì tiền lãi sẽ chia ba. Ngày hôm sau, bị cáo cùng T2 và T3 đi đến chỗ cất giấu ma túy, lấy 05 bánh ma túy để T2 và T3 mang đi bán cho khách Trung Quốc. Vài hôm sau, T2 thông báo cho bị cáo khách Trung Quốc trả lại ma túy vì chất lượng kém và T2 đã cất giấu số ma túy đó. Từ đó, bị cáo không biết T2 với T3 bán ma túy cho ai. Sau đó, bị cáo sang Trung Quốc làm thuê, bị cáo có biết bị truy nã nên đã ra đầu thú vào ngày 09-10-2023.
Sau đó, bị cáo Linh Văn M thay đổi lời khai và trình bày: Khi cùng Triệu Văn T2 đi cạo nhựa thông đã phát hiện 01 túi nilon bên trong có 05 bánh ma túy Heroine. Bị cáo bảo Toàn vứt túi ma túy vào chỗ khe nước hoặc bụi rậm để tập trung làm việc; bị cáo không được cất giấu ma túy, không được bảo Toàn và T3 mang ma túy đi bán.
Bản Cáo trạng số 45/CT-VKSLS-P2 ngày 17-4-2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn truy tố bị cáo về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 194 của Bộ luật Hình sự năm 1999.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 53/2024/HS-ST ngày 19 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn đã quyết định:
Căn cứ vào điểm b khoản 4 Điều 194; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46; các Điều 20; 35; 45; 53 của Bộ luật Hình sự năm 1999;
Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Linh Văn M phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Linh Văn M tử hình. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Ngoài ra Tòa án cấp sơ thẩm quyết định về án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Ngày 30/6/2024, bị cáo Linh Văn M kháng cáo xin giảm hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- - Bị cáo Linh Văn M vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bị cáo Tử hình về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” là quá cao. Bị cáo đã ra đầu thú, có bố là ông Linh Văn T được Chủ tịch nước phong tặng Huân chương chiến thắng hạng Ba. Theo nhận thức của bị cáo thì chỉ là người liên quan, không trực tiếp mua bán chất ma túy. Bị cáo chỉ phát hiện ra ma túy và giấu, không bảo Triệu Văn T2 và Lộc Văn T3 mang ma túy đi bán cho người đàn ông Trung Quốc. Không có việc giao ma túy cho Triệu Văn T2 và Hoàng Văn B đi bán.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
- + Về tố tụng: Kháng cáo của bị cáo trong thời hạn luật định, hình thức nội dung đơn phù hợp nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
- Quá trình giải quyết Hội đồng xét xử, thư ký Tòa án đã thực hiện đúng và đầy đủ quy định của pháp luật, những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định pháp luật tố tụng.
- + Về nội dung: Xét kháng cáo của bị cáo, thấy rằng Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và quyết định mức hình phạt “Tử hình” đối với bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” là phù hợp, có căn cứ pháp luật. Quá trình xét xử phúc thẩm bị cáo không có thêm tình tiết giảm nhẹ nào mới. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- + Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
- - Người bào chữa cho bị cáo luật sư Chu Thị Nguyễn P trình bày: Sau khi bị bắt và quá trình điều tra, tại phiên tòa bị cáo cơ bản thừa nhận về hành vi của mình. Luật sư cho rằng bị cáo đã thành khẩn khai báo tuy nhiên do trình độ là người dân tộc, văn hóa không được học, đơn kháng cáo cũng không tự viết được nên cách trình bày có phần không được logic. Xét về vai trò: Bị cáo M và T2 cùng là người phát hiện ra túi H nhưng khi T2 cùng T3 mang ma túy đi Trung Quốc bán, ma túy kém chất lượng nên bên Trung Quốc không mua, sau đó mang về giấu ở nhà T2. Bị cáo Linh Văn M không có động thái nào khác trong việc tìm kiếm khách hàng mới để bán mà do T2 và Trọng tự tìm khách, mang đi bán. Sau đó B là người trực tiếp mang ma túy đi bán thì bị bắt quả tang. Thấy rằng trong vụ án này vai trò của T2 và T3 tích cực hơn Linh Văn M. Xét hoàn cảnh của bị cáo thì thấy rằng, bị cáo xuất thân trong gia đình cơ bản, bố đẻ được Chủ tịch nước tặng huân chương chiến thắng hạng 3, bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, chủ yếu làm nông nghiệp; sau khi hết vụ mùa thì bị cáo làm thuê, thu nhập không ổn định. Bị cáo hiện nay tuổi đã cao, sức khỏe yếu, mắt kém, bị cáo bị bệnh huyết áp cao và thường xuyên tức ngực khó thở. Bị cáo xuất thân từ nông dân lao động, nhất thời phạm tội, hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn và là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn. Thời điểm bị cáo phạm tội thì con gái bị cáo là Linh Thị H1 bị tai nạn giao thông và gãy chân, không có tiền đi mổ để ghép xương, bị cáo lo lắng cho con nên mới không làm chủ được bản thân. Nhặt được số lượng 05 bánh heroin nên đã đồng ý để T3 và T2 mang đi bán. Sau khi phạm tội bị cáo đã ra đầu thú trước pháp luật.
- Do đó bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 46 và điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Vì vậy tôi kính đề nghị Hội đồng xét xử xem xét khoan hồng với bị cáo Linh Văn M, cho bị cáo hưởng mức án thấp hơn mức án của vị đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị tại phiên tòa ngày hôm nay.
- - Bị cáo vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, nhất trí quan điểm của người bào chữa.
- Bị cáo nói lời sau cùng: Kính thưa Hội đồng xét xử, bị cáo quay về đầu thú. Mong Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết và giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Hiện nay bị cáo có bệnh tật nhiều và đã già yếu, tội nghiệp, khổ thân cho bị cáo. Mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm được trở về với xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, người bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Kháng cáo của bị cáo Linh Văn M trong hạn luật định đủ điều kiện xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy:
[2.1] Tại phiên toà sơ thẩm, bị cáo Linh Văn M thừa nhận nguồn gốc 05 bánh ma túy Heroine là của bị cáo, do bị cáo nhặt được và đồng ý để Triệu Văn T2 và Lộc Văn T3 mang đi bán nên Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng; bị cáo không thừa nhận việc bị cáo bảo Triệu Văn T2 và Lộc Văn T3 mang ma túy đi bán cho người đàn ông Trung Quốc và việc giao ma túy cho Triệu Văn T2 và Hoàng Văn B đi bán. Xét thấy: Những đối tượng liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo Linh Văn M đã bị điều tra, truy tố, xét xử bằng Bản án đã có hiệu lực pháp luật. Tại phiên tòa sơ thẩm được triệu tập tham gia phiên tòa với tư cách là người làm chứng và những người này không có mâu thuẫn với bị cáo. Lời khai của người làm chứng tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử thấy, lời khai của những người làm chứng đảm bảo tính khách quan, phù hợp với lời khai của bị cáo tại các Biên bản ghi lời khai vào ngày 09 và ngày 12-10-2023 và diễn biến của vụ án. Vì vậy, có căn cứ để xác định: 05 bánh ma túy Heroine có tổng khối lượng 1.757,3 gam (đã trừ bì) mà Cơ quan chức năng đã thu giữ khi bắt quả tang Hoàng Văn B vào ngày 30-5-2015 là của Linh Văn M; do Linh Văn M bảo Triệu Văn T2 và Lộc Văn Trọng liên L tìm khách để bán. Thông qua Hoàng Văn B, Triệu Văn T2 và Lộc Văn T3 đã tìm được người mua ma túy; khi Hoàng Văn B đang trên đường mang ma túy đi tiêu thụ thì bị phát hiện bắt quả tang.
[2.2] Do hành vi của bị cáo được thực hiện khi Bộ luật Hình sự năm 1999 có hiệu lực. Vì vậy, cấp sơ thẩm truy tố, xét xử bị cáo Linh Văn M về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 194 của Bộ luật Hình sự năm 1999 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan.
[3] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy:
[3.1] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước; ảnh hưởng xấu đến trật tự an ninh xã hội, gây bất bình trong dư luận quần chúng nhân dân. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm minh theo đúng quy định của pháp luật.
[3.2] Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tiền án, tiền sự; năm 1988 bị cáo đã từng bị xét xử 06 tháng tù cho hưởng án treo về tội Buôn lậu trái phép hàng hóa qua biên giới, mặc dù bị cáo đã được xóa án tích nhưng điều này thể hiện bị cáo là người có nhân thân không tốt. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tại phiên tòa bị cáo chỉ thừa nhận một phần hành vi phạm tội, điều đó thể hiện bị cáo chưa thực sự ăn năn hối hận về hành vi phạm tội của mình. Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy điểm tại điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật năm 1999 nhưng mức độ giảm nhẹ không đáng kể; mặt khác, do bị cáo ra đầu thú và có bố đẻ là ông Linh Văn T được Nhà nước tặng Huân chương nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999 là có căn cứ pháp luật.
[3.3] Mặc dù bị cáo có trình độ học vấn không cao và là người dân tộc sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội còn khó khăn, nhưng bị cáo đã được tiếp cận thông tin tuyên truyền về công tác phòng chống tội phạm trong đó có tội phạm về ma túy; bị cáo nhận thức được hành vi Mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện; điều này thể hiện bị cáo là người có ý thức chấp hành pháp luật kém. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm không áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm k khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999 (phạm tội do lạc hậu) đối với bị cáo là có căn cứ.
[3.4] Xét về vai trò: Nguồn gốc ma túy là của bị cáo Linh Văn M, bị cáo đồng ý để Triệu Văn T2 và Lộc Văn T3 và mang đi bán nên bị cáo là người có vai trò chính trong vụ án. Những đồng phạm có liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo đã bị xét xử tại Bản án hình sự sơ thẩm số 59/2016/HS-ST ngày 19-8-2016 của Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn và Quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm số 03/2017/HSPT-QĐ ngày 06-01-2017 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội. Theo đó, Triệu Văn T2 và Hoàng Văn B bị xử phạt tù Chung thân về tội Mua bán trái phép chất ma túy, Lộc Văn T3 bị xử phạt 13 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy (thời điểm xét xử Lộc Văn T3 chưa đủ 18 tuổi); Bản án nói trên đã có hiệu lực pháp luật.
[3.5] Tại quá trình xét xử phúc thẩm bị cáo không có tình tiết giảm nhẹ nào mới, hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng với 05 bánh ma túy Heroine có tổng khối lượng 1.757,3 gam. Hành vi của bị cáo gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương. Tệ nạn ma túy hiện nay là vấn đề nhức nhối của xã hội là nguyên nhân gây lên nhiều hệ lụy nghiêm trọng. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, biết rõ tác hại của ma túy đối với đời sống xã hội và quy định của Nhà nước là nghiêm cấm mọi hành vi buôn bán, vận chuyển, tàng trữ, chứa chấp sử dụng các chất ma túy nhưng bị cáo coi thường pháp luật, vẫn cố ý phạm tội. Vì vậy Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Linh Văn M mức án “Tử hình” về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” là phù hợp, có căn cứ pháp luật, tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nhằm đảm bảo tác dụng giáo dục riêng và răn đe, phòng ngừa chung.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo chưa thực sự thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Do đó, Hội đồng xét xử thấy không có căn cứ chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo; cần giữ nguyên mức hình phạt của bản án sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội là phù hợp, có căn cứ pháp luật.
Quan điểm đề nghị của người bào chữa cho bị cáo không có căn cứ chấp nhận.
[4] Về án phí phúc thẩm: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí phúc thẩm.
[5] Về quyết định khác: Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án;
QUYẾT ĐỊNH:
- Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Linh Văn M;
Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 53/2024/HS-ST ngày 19 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn, cụ thể như sau:
- Căn cứ vào điểm b khoản 4 Điều 194; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46; các Điều 20; 35; 45; 53 của Bộ luật Hình sự năm 1999;
- Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
- - Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Linh Văn M phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- - Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Linh Văn M tử hình. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, bị cáo Linh Văn M có quyền làm đơn xin ân giảm hình phạt lên Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
- Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ong Thân T |
Quyết định số 874/2024/HS-PT ngày 25/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về hình sự phúc thẩm
- Số quyết định: 874/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 25/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo Giữ nguyên bản án sơ thẩm
