|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 872/2024/HS-PT
Ngày: 23/10/2024
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Ong Thân T; |
| Các Thẩm phán: | Ông Đặng Đình L; |
| Ông Phạm Việt H. |
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Đặng Thùy Trang, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Huy H - Kiểm sát viên cao cấp.
Ngày 23 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 572/2024/TLPT-HS ngày 21 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo Phạm Xuân T6 phạm tội “Mua bán người”. Do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 203/2024/HS-ST ngày 08 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.
* Bị cáo có kháng cáo:
Họ và tên: Phạm Xuân T6, sinh năm 1984; Nơi ĐKNKTT và chỗ ở: Số nhà B, ngõ A, phố B, phường G, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Đạo C; Con ông: Phạm Xuân H và con bà: Đỗ Thị Tuyết S; Có vợ là: Lưu Thị H1, sinh năm 1990 và có 02 con: lớn sinh năm 2011, nhỏ sinh năm 2015; Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
- Ngày 18/6/2002, bị Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội Trộm cắp tài sản.
- Ngày 21/3/2018, bị Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 42 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích.
- Ngày 20/4/2023, bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh L khởi tố bị can về tội Mua bán người theo quy định tại Điều 150 Bộ luật hình sự. Tại bản án hình sự sơ thẩm số 38/2024/HS-ST ngày 23/8/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng đã xử phạt bị cáo Phạm Xuân T6 16 (mười sáu) năm tù về tội “Mua bán người”. Bị cáo kháng cáo nên bản án chưa có hiệu lực pháp luật.
Bị cáo bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh L bắt tạm giam trong vụ án khác từ ngày 20/4/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh L; có mặt.
Ngoài ra, trong vụ án còn có các bị cáo Nguyễn Thị Thu H2, Nguyễn Thị L có kháng cáo xin hưởng án treo nhưng đã rút kháng cáo; các bị cáo Nguyễn Hoàng N, Trần Xuân H3, Nguyễn Việt A, Nguyễn Bảo K không kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
* Hành vi mua bán người của Phạm Xuân T6 (từ cuối tháng 3/2022 đến ngày 30/4/2022)
Khoảng tháng 02/2022, do không có việc làm nên Phạm Xuân T6 (tên thường gọi là Thanh N1, sinh năm 1984; trú tại số nhà B, hẻm B, phường G, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng) truy cập vào mạng xã hội Facebook để tìm kiếm việc làm. Khi thấy hội người Việt Nam bên Campuchia có đăng bài tuyển đầu bếp với mức lương 700USD (Đô la Mỹ)/tháng, làm việc tại Casino ở Campuchia, T6 đến cửa khẩu quốc tế M - Tây Ninh, làm thủ tục xuất cảnh sang P - Campuchia để xin việc làm. Khi sang đến P - Campuchia, T6 tìm đến Công ty đã đăng tin, là Công ty do người Trung Quốc quản lý, ký hợp đồng làm nhân viên phụ bếp với thời hạn 06 tháng. Quá trình làm việc, T6 xin chuyển sang bộ phận chăm sóc khách hàng để có thu nhập cao hơn, nhiệm vụ ở bộ phận chăm sóc khách hàng là gọi điện thoại mời người Việt Nam tham gia chơi các sàn chứng khoán, G bài nạp tiền, sau đó đánh sập để chiếm đoạt tiền. Ngoài ra, T6 biết được nếu đưa được người vào làm việc tại đây, quản lý người Trung Quốc sẽ trả cho người môi giới số tiền 2.000USD/người. Do vậy, T6 xin nghỉ làm việc tại Công ty của người Trung Quốc và bỏ ra ngoài, thuê nhà ở khu vực giáp bờ sông trung tâm tỉnh Svay Rieng - Campuchia, với mục đích tìm người bán vào khu Công ty của người Trung Quốc tại P - Campuchia, qua đó thu lời bất chính.
Đến giữa tháng 3/2022, T6 gọi điện thoại cho Nguyễn Việt A (sinh năm 1990; trú tại số nhà D, tập thể A Đ, phường Đ, quận H, Hà Nội; là bạn T6), nói có người anh đang mở Công ty G1, Casino ở Campuchia, T6 có cổ phần trong công ty, công ty đang thiếu người làm việc, công việc nhẹ nhàng chỉ sử dụng máy tính, tư vấn khách hàng, mức lương khoảng 700 - 800USD/tháng, có hoa hồng và thưởng, nếu chuyên cần có thể thu nhập trên 1.000USD/tháng, rồi rủ Việt A sang Campuchia, Việt A đồng ý (thời điểm này Việt A không biết T6 có hành vi mua bán người). Sau đó, Việt A làm hộ chiếu, xuất cảnh sang Campuchia qua cửa khẩu M và được T6 đón, đưa về ở tại căn nhà đang thuê cùng với T6. Quá trình ở đây, T6 bảo Việt A là công ty tuyển người làm, nếu có người quen thì giới thiệu sang, T6 sẽ trả cho Việt A 300USD/người, Việt A đồng ý. Sau đó, Việt A đã giới thiệu với T6 bạn của Việt A là Trần Xuân H3 (sinh năm 1984; trú tại số nhà B, phố B, phường N, quận H, Hà Nội), T6 bảo Việt A đưa H3 sang làm Công ty G1 tại Campuchia. Sau khi trao đổi, thống nhất, ngày 22/3/2022 H3 xuất cảnh sang Campuchia qua cửa khẩu M và gọi Việt A ra đón. Khi T6 bảo đưa H3 vào Công ty G1 cờ bạc trên mạng thì H3 không đồng ý và nói với Việt A: “Tao ở ngoài làm với mày, mày đi đâu thì tao đi đấy” rồi ở lại nhà T6 cùng Việt A. Sau đó, T6 bảo Việt A tìm người đưa sang Campuchia đưa vào Công ty game của anh T6.
Đến đầu tháng 4/2022, Việt A đặt vấn đề với Nguyễn Hoàng N - là bạn Việt A (sinh năm 1988; trú tại số nhà F, phố P, phường H, quận H, Hà Nội) về việc tìm người đưa sang Campuchia làm G; lương 800USD/tháng, nếu làm tốt đủ ngày công sẽ được thưởng thêm 200USD/tháng; các khoản chi phí tàu xe, làm Visa nhập cảnh sang Campuchia do Việt A trả; mỗi người sang, Việt A sẽ trả cho Hoàng N 100USD, N đồng ý. Theo thỏa thuận, Hoàng N phụ trách tìm người ở Việt Nam có nhu cầu đi lao động tại Campuchia, còn Việt A cùng H3 và T6 ở Campuchia hướng dẫn bị hại thủ tục làm Visa, đi đến cửa khẩu, xuất cảnh sang Campuchia và đón ở cửa khẩu, sau đó giao người cho T6. Từ cuối tháng 3/2022 đến cuối tháng 4/2022, Việt A và H3 ở cùng với T6 tại tỉnh Svay Rieng, kết hợp với Hoàng N (tại Việt Nam) tìm người Việt Nam, giới thiệu cho T6. Sau đó, T6 bán những người trên vào Công ty của người Trung Quốc. Tại Công ty của người Trung Quốc, những người bị hại đều bị thu hộ chiếu, yêu cầu ký hợp đồng bằng tiếng Trung Quốc, bố trí ăn ở trong khu biệt lập, được canh gác bởi bảo vệ có trang bị vũ khí, không được tự do ra ngoài khu vực Công ty. Các bị hại đều bị ép buộc sử dụng máy tính, mạng xã hội gọi điện, nhắn tin lừa đảo chính những người Việt Nam tham gia vào các trang Webside cờ bạc, các sàn chứng khoán, tiền ảo..., yêu cầu chuyển khoản tiền để chiếm đoạt. Các bị hại đều bị ép chỉ tiêu, nếu không làm được thì sẽ tiếp tục bị bán sang các Công ty khác, bị đánh đập và cưỡng bức lao động. Khi các bị hại muốn nghỉ việc, quản lý người Trung Quốc bắt họ phải nộp số tiền từ 3.000USD đến 8.000USD mới được nghỉ việc. Kết quả tra xác định, từ cuối tháng 3/2022 đến ngày 30/4/2022, T6 bán cho Công ty của người Trung Quốc 03 bị hại. Cụ thể:
- Anh Nguyễn Hoài N2 (sinh năm 1990; trú tại số nhà B, phố T, phường B, quận H, Hà Nội): Sau khi bàn bạc với T6, khoảng ngày 20/3/2022, Việt A đã liên hệ và rủ anh Nguyễn Hoài N2 (là người quen biết với Việt A từ năm 2019) sang Campuchia làm việc, giới thiệu anh Hoài N2 với T6. T6 nói dối anh Hoài N2 sang làm việc tại Công ty G1 mà T6 có cổ phần, với mức lương 800 USD/tháng, nếu làm đủ 30 ngày sẽ được hưởng lương 1.200 USD/tháng. Anh Hoài N2 đồng ý và được T6 mua vé máy bay, bay từ Hà Nội vào thành phố Hồ Chí Minh. Tại thành phố Hồ Chí Minh, anh Hoài N2 được 01 người phụ nữ (không xác định được) hướng dẫn làm hộ chiếu. Sau khi có hộ chiếu, anh Hoài N2 được T6 hướng dẫn đi đến cửa khẩu M - Tây Ninh. Tại đây, anh Hoài N2 được 01 người nam giới (không xác định được) đón và đưa qua cửa khẩu M sang Campuchia. Khi sang đến địa phận cửa khẩu B - Campuchia, anh Hoài N2 được T6 cùng Việt A và H3 đón, đưa anh Hoài N2 về Công ty G1 của người Trung Quốc tại PhnomPenh - Campuchia. Tại công ty, anh Hoài N2 được bố trí ăn, ở trong toà nhà chung cư, ở cùng với 08 người Việt Nam (chưa xác định được nhân thân, lai lịch). Chung cư có khoảng 04 - 05 toà nhà, nằm trong khuôn viên có tường bao, cổng có bảo vệ canh gác 24h/24h. Công việc của anh Hoài N2 là thực hiện thao tác trên máy tính và trên điện thoại thông minh có kết nối Internet, sử dụng các tài khoản mạng xã hội facebook, zalo có sẵn trên máy, lôi kéo người Việt tham gia chơi Game bài online, nạp tiền trên các trang Game của người Trung Quốc, sau đó đánh sập các trang mạng để chiếm đoạt tiền của người chơi, thời gian làm việc từ 10 giờ sáng đến 23 giờ đêm hàng ngày, ăn ở không phải trả tiền, lương 1.200USD/tháng (tương đương khoảng hơn 28.000.000 đồng). Sau khi làm được khoảng 02 tháng, anh Hoài N2 thấy công việc có tính chất lừa đảo nên muốn nghỉ việc nên đã liên hệ với Việt A. Sau đó, Việt A cùng góp tiền với anh Hoài N2 được 3.000USD. Ngày 22/6/2022, sau khi anh Hoài N2 nộp 3000USD cho Công ty của người Trung Quốc thì được ra ngoài rồi đi đến cửa khẩu M, nhập cảnh về Việt Nam.
- Anh Phạm Duy T (sinh năm 1989; trú tại thôn C, xã C, huyện N, tỉnh Hải Dương; ở tại số nhà F, phố H, thị trấn Y, huyện G, Hà Nội): Nguyễn Hoàng N và anh T có quan hệ quen biết, bạn bè với nhau. Đầu tháng 4/2022, Hoàng N nói với anh T, rủ anh T sang Campuchia làm Game, lương 1.000USD/tháng, làm việc 08 tiếng/ngày, anh T đồng ý. Sau đó, Hoàng N hướng dẫn anh T làm hộ chiếu, rồi Hoàng N đặt vé máy bay để anh T bay vào thành phố Hồ Chí Minh. Ngày 14/4/2022, Việt A và H3 đón anh T tại thành phố Hồ Chí Minh, rồi đưa anh T đến cửa khẩu M. Đến nơi, Việt A và H3 cùng anh T xuất cảnh sang Campuchia. T6 đón cả 03 người tại cửa khẩu và đưa anh T đến 01 khách sạn (không xác định được), để anh T tập đánh máy tính trong 01 ngày. Đến tối ngày 15/4/2022, T6 bán anh T cho Công ty của người Trung Quốc tại P. Anh T được đưa vào biệt khu có tên gọi “Tam Thái T1”, cách cửa khẩu L2 - An Giang của Việt Nam khoảng 03km để làm việc. Công việc của anh T là sử dụng các trang mạng xã hội, lôi kéo người Việt Nam tham gia trò chơi đánh bạc trên mạng Internet. Làm việc được khoảng 01 tháng và được trả 700 USD, anh T thấy công việc không đúng như N nói, nên muốn xin nghỉ việc, quản lý người Trung Quốc yêu cầu phải bồi thường số tiền 8.000 USD. Do không có tiền, anh T buộc phải tiếp tục làm việc. Ngày 15/6/2022, anh T cùng khoảng 20 người Việt Nam khác bỏ trốn khỏi Công ty, chạy vào rừng theo hướng cửa khẩu L và gặp Bộ, anh T được đưa về nước.
- Anh Nguyễn Thanh T2 (sinh năm 1990; trú tại số nhà D, phố P, phường C, quận Đ, Hà Nội): Khoảng tháng 4/2022, qua các mối quan hệ xã hội, anh T2 và Việt A quen biết nhau. Biết anh T2 chưa có việc làm, Việt A rủ anh T2 sang làm Game, C tại Campuchia, anh T2 đồng ý. Việt A hướng dẫn anh T2 đi làm hộ chiếu và đặt vé máy bay cho anh T2 bay vào thành phố Hồ Chí Minh. Ngày 18/4/2023, anh T2 được Việt A hướng dẫn đi đến cửa khẩu M để làm thủ tục xuất cảnh sang Campuchia. Khi anh T2 nhập cảnh qua cửa khẩu B - Campuchia được Việt A cùng T6 đón, đưa về khách sạn L3, P và gặp H3 tại đó. Sau đó, anh T2 được T6 cùng Việt A và H3 đưa đến 01 khách sạn tại P bàn giao cho 03 người Trung Quốc, đưa anh T2 về khu “Tam Thái T1” để làm việc. Khi làm việc tại công ty của người Trung Quốc, anh T2 nhiều lần bị đánh đập, cưỡng bức lao động. Khi anh T2 muốn nghỉ làm, quản lý người Trung Quốc thông báo anh T2 bị bán cho công ty giá 2.600 USD, nếu anh T2 muốn về thì phải trả lại số tiền trên và các khoản chi phí nuôi ăn, ở từ khi sang, tổng cộng là 5.000 USD thì mới được về. Khoảng 22 giờ ngày 15/6/2022, anh T2 và 20 người Việt Nam khác đã trốn khỏi công ty, chạy vào rừng theo đường mòn. Đến khoảng 11 giờ ngày 16/6/2022, anh T2 đến cửa khẩu L2 và được đưa về Việt Nam.
Do Việt A không biết việc T6 bán những người mà Việt A và Hoàng Nam giới T3 vào Công ty của người Trung Quốc nên trong thời gian làm chung với nhau, ngoài những người nêu trên thì Việt A và Hoàng N đã giới thiệu cho T6 các anh, chị, gồm: Anh Nguyễn Nhật Q, Nguyễn Nhật L1 (cùng sinh năm 1988; là 02 anh em sinh đôi; trú tại số nhà G, phố H, phường H, quận H, Hà Nội); anh Đinh Doanh T4 (sinh năm 1989; trú tại số nhà B, phố H, phường H, quận H, Hà Nội); anh P1 (nhà ở Lào Cai; chưa rõ địa chỉ cụ thể); vợ chồng anh T5, chị N3 (chưa xác định được nhân thân, lai lịch). Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh, tuy nhiên các anh Q, L1, T4 không có mặt tại địa phương nên chưa có căn cứ để làm rõ. Ngày 02/8/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H đã quyết định tách vụ án hình sự đối với hành vi của T6, Việt A và N trong việc bán các anh chị nêu trên để tiếp tục điều tra làm rõ, xử lý sau.
Tại Cơ quan điều tra, bị can Phạm Xuân T6 khai nhận: T6 là người trực tiếp bán anh Nguyễn Hoài N2, anh Phạm Duy T, anh Nguyễn Thanh T2, anh Nguyễn Nhật Q, anh Nguyễn Nhật L1 và anh Đinh Doanh T4 vào Công ty của người Trung Quốc với giá 2.000USD/người (tương đương khoảng 45.000.000 đồng). Đối với mỗi cá nhân, T6 đã chi phí các khoản sau: Làm hộ chiếu nhanh khoảng 3.000.000 đồng; vé máy bay từ Hà Nội vào thành phố Hồ Chí Minh khoảng 3.000.000 đồng; tiền ăn, ở tại thành phố Hồ Chí Minh khoảng 2.000.000 đồng; chi phí xe đi lại và làm thủ tục từ thành phố Hồ Chí Minh đến cửa khẩu M khoảng 3.000.000 đồng; phí xuất nhập cảnh và dán Visa khoảng 5.000.000 đồng; tiền xe, ăn, ở tại Campuchia khoảng 3.000.000 đồng; trả cho Việt A 10.000.000 đồng. Tổng chi phí cho 01 bị hại khoảng 29.000.000 đồng. Sau khi trừ các chi phí, T6 được hưởng lợi số tiền khoảng 16.000.000 đồng/01 bị hại và tổng số tiền T6 được hưởng lợi là khoảng 96.000.000 đồng. T6 khai đã trả cho Việt A 10.000.000 đồng/người, tổng cộng là 60.000.000 đồng. Tuy nhiên, kết quả sao kê ngân hàng, thể hiện ngày 21/4/2022, T6 mới chuyển khoản số tiền 38.315.000 đồng cho Việt A, là tiền công khi giới thiệu 06 người trên. Còn Việt A trả cho Hoàng N số tiền 7.600.000 đồng, là tiền giới thiệu các anh Q, L1 và vợ chồng anh T5, chị N3. Như vậy, xác định số tiền thu lời bất chính của T6 là khoảng 117.685.000 đồng; Việt A hưởng lợi là 30.715.000 đồng và Hoàng N hưởng lợi số tiền là 7.600.000 đồng.
Như vậy, qua điều tra xác định số tiền thu lợi bất chính của Phạm Xuân T6 trong việc bán các bị hại vào Công ty của người Trung Quốc là 117.685.000 đồng.
Ngoài ra Bản án sơ thẩm còn nêu hành vi mua bán người của Nguyễn Việt A, Trần Xuân H3, Nguyễn Hoàng N và hành vi đánh bạc. Tuy nhiên không có kháng cáo nên Tòa án không đề cập xem xét.
Cáo trạng số 674/CT-VKS-P2 ngày 27/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội truy tố đối với các bị cáo như sau: Truy tố bị cáo Nguyễn Hoàng N về tội “Mua bán người” và tội “Đánh bạc” theo quy định tại điểm e khoản 2 Điều 150 và khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự 2015; Truy tố các bị cáo Phạm Xuân T6, Trần Xuân H3 về tội “Mua bán người” theo quy định tại điểm e khoản 2 Điều 150 của Bộ luật Hình sự 2015; Truy tố các bị cáo Nguyễn Việt A, Nguyễn Bảo K về tội “Mua bán người” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 150 của Bộ luật Hình sự 2015; Truy tố các bị cáo Nguyễn Thị Thu H2 và Nguyễn Thị L về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự 2015.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số số 203/2024/HS-ST ngày 08 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã quyết định:
Áp dụng:
- Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331; 332; 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
- Điểm e khoản 2 Điều 150 và khoản 1 Điều 321; Điều 38; Điều 50; Điều 58; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 55 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Hoàng N.
- Điểm e khoản 2 Điều 150; Điều 38; Điều 50; Điều 58; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Phạm Xuân T6 và Trần Xuân H3. Áp dụng thêm khoản 2 Điều 51; Điều 54 đối với Trần Xuân H3.
- Điểm a khoản 1 Điều 150; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Việt A và Nguyễn Bảo K.
- Khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Thị Thu H2 và Nguyễn Thị L; Áp dụng thêm điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Thị Thu H2;
Xử:
- Tuyên bố bị cáo Phạm Xuân T6 phạm tội “Mua bán người”;
- Về hình phạt:
- - Xử phạt bị cáo Phạm Xuân T6 10 (mười) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/4/2023.
- - Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thu H2 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, trừ thời hạn tạm giữ, tạm giam từ 04/01/2023 đến ngày 03/4/2023.
- - Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị L 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, trừ thời hạn tạm giữ, tạm giam từ 04/01/2023 đến ngày 03/4/2023.
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thị Thu H2, Nguyễn Thị L phạm tội “Đánh bạc”;
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về tội danh và hình phạt đối với các bị cáo Nguyễn Hoàng N, Trần Xuân H3, Nguyễn Việt A, Nguyễn Bảo K; biện pháp tư pháp khác; xử lý vật chứng; án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 12/4/2024 bị cáo Phạm Xuân T6 kháng cáo xin giảm hình phạt;
Ngày 22/4/2024 bị cáo Nguyễn Thị Thu H2 kháng cáo xin được hưởng án treo. Tại phiên tòa ngày 17/8/2024 bị cáo đã rút đơn kháng cáo. Hội đồng xét xử đã đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo.
Ngày 22/4/2024 bị cáo Nguyễn Thị L kháng cáo xin được hưởng án treo. Tại phiên tòa ngày 17/8/2024 bị cáo đã rút đơn kháng cáo. Hội đồng xét xử đã đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị cáo T6 vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo. Bị cáo trình bày quá trình trước đây có tham gia quân đội. Được Chủ tịch nước tặng Huy chương chiến sỹ vẻ vang hạng Ba và Huy chương chiến sỹ vẻ vang hạng Nhì. Những tình tiết này chưa được Tòa án cấp sơ thẩm xem xét là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Ngoài ra, mong Hội đồng xét xử xem xét số tiền bị cáo thu lợi bất chính như trong kết luận vụ án là 30.000.000 đồng chứ không phải 117.685.000 đồng như Tòa sơ thẩm quy kết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội phát biểu quan điểm: Trong quá trình xét xử phúc thẩm, bị cáo Phạm Xuân T6 cung cấp thêm một số tài liệu mới là Huy chương chiến sỹ vẻ vang hạng Ba và Huy chương chiến sỹ vẻ vang hạng Nhì. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm v khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, cần xem xét áp dụng thêm cho bị cáo. Từ đó căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Phạm Xuân T6, sửa bản án hình sự sơ thẩm theo hướng giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo với mức giảm từ 06 tháng đến 12 tháng tù. Đối với bản án sơ thẩm xác định thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 20/4/2023 là chưa chính xác. Xác định bị cáo chấp hành bản án của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội tính từ ngày bị cáo đi thi hành án, cần điều chỉnh lại đối với thời hạn chấp hành án của bản án phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Kháng cáo của bị cáo Phạm Xuân T6 trong hạn luật định đủ điều kiện xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo T6 khai nhận toàn bộ hành vi của mình nhưng bị cáo nhận thức đó không phải là hành vi mua bán người mà bị cáo chỉ môi giới việc làm cho công ty của Trung Quốc tại Campuchia cho người Việt Nam. Tuy nhiên, các bị cáo N, H3, Việt A, K đều khai nhận các Công ty của nước ngoài mà T6 đưa người Việt Nam sang đều làm việc bất hợp pháp, đánh bạc, lừa đảo, làm việc ở khu biệt lập không được tự do, vì vậy Nhà nước ráo riết truy quét các công ty này. Qua phần tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo T6 nhận thức được hành vi của mình là hành vi bị pháp luật cấm.
Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo H3 thừa nhận việc mua bán người đối với Trần Hoài N4 mà không nhận mua bán người đối với Nguyễn Bảo K. Tuy nhiên tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo H3, bị cáo Việt A đều khai nhận hai bị cáo cùng đưa K vào công ty của người Trung Quốc, nên bị cáo H3 đã đồng phạm với Việt A trong việc mua bán Nguyễn Bảo K. H3 trình bày mình từ chối không nhận tiền hưởng lợi nhưng việc không nhận tiền hưởng lợi không ảnh hưởng đến việc cấu thành hành vi phạm tội mua bán người của bị cáo H3.
Do đó căn cứ vào lời khai của các bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án do đó Hội đồng xét xử có cơ sở kết luận hành vi của bị cáo như sau:
Khoảng tháng 02/2022, Phạm Xuân T6 xuất cảnh sang Campuchia, đến làm việc tại Công ty của người Trung Quốc. Tại đây, T6 biết quản lý Công ty người Trung Quốc có nhu cầu trả tiền để tìm kiếm, tuyển mộ lao động người Việt Nam với giá 2.000USD/người. Do vậy, T6 rủ Nguyễn Việt A sang Campuchia rồi thỏa thuận với Việt A về việc công ty game của T6 có cổ phần cần tuyển người vào làm và sẽ trả cho Việt A 300USD/người mà Việt A giới thiệu, Việt A đồng ý. Đến cuối tháng 3/2022, Việt A rủ Trần Xuân H3 từ Việt Nam sang Campuchia cùng làm với Việt A. Đến đầu tháng 4/2022, Việt A thỏa thuận với Nguyễn Hoàng N về việc, N ở trong nước tìm người đưa sang Campuchia, Việt A sẽ trả cho Hoàng N 100 USD/người, Hoàng N đồng ý. Trong giai đoạn từ cuối tháng 3/2022 đến ngày 30/4/2022, T6 không nói với Việt A và Hoàng N về việc bán những người Việt A và Hoàng N đưa sang Campuchia cho công ty Trung Quốc nên Việt A, Hoàng N không biết, do vậy Việt A, Hoàng N không đồng phạm với T6 về hành vi Mua bán người trong giai đoạn này.
Từ sau ngày 30/4/2022, Việt A, H, H3 không làm cùng với T6 nữa mà có hành vi đưa người sang Campuchia và liên hệ để bán cho Công ty của người Trung Quốc. Ngày 16/6/2022, Việt A, H3, H bán Nguyễn Bảo K vào Công ty của người Trung Quốc được 2.000USD. Sau đó, Hoàng N lại thỏa thuận, trả công K 5.000.000 đồng/người nếu K tìm được người để bán vào Công ty của người Trung Quốc, K đồng ý. Sau đó, K lừa gạt anh Trần Hoài N4 để Hoàng N và H3 bán anh Hoài N4 vào Công ty của người Trung Quốc. Qua điều tra, xác định:
- Phạm Xuân T6 thực hiện hành vi mua bán 03 người là anh Nguyễn Hoài N2, anh Phạm Duy T và anh Nguyễn Thanh T2 để hưởng lợi số tiền 117.685.000 đồng.
Bị cáo Phạm Xuân T6 là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo biết việc mua bán người là hành vi vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi mua bán người vì mục đích thu lời bất chính. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền được bảo vệ thân thể, nhân phẩm của con người, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự xã hội.
Hành vi của bị cáo Phạm Xuân T6 đã phạm tội “Mua bán người” theo quy định tại điểm e khoản 2 Điều 150 Bộ luật Hình sự.
Cấp sơ thẩm truy tố, xét xử đối với bị cáo Phạm Xuân T6 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xét kháng cáo của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy:
[3.1] Đối với việc rút kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị Thu H2:
Tại quá trình xét xử phúc thẩm, ngày 17/8/2024 bị cáo Nguyễn Thị L và Nguyễn Thị Thu H2 đã tự nguyện rút kháng cáo. Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 348 Bộ luật Tố tụng hình sự, đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của các bị cáo. Bản án sơ thẩm có hiệu lực thi hành đối với hai bị cáo kể từ ngày quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm (ngày 17/8/2024).
[3.2] Đối với kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Phạm Xuân T6, Hội đồng xét xử thấy:
Về vai trò của bị cáo trong vụ án: Trong vụ án này, bị cáo Phạm Xuân T6 là người thực hiện hành vi mua bán đối với Nguyễn Hoài N2, anh Phạm Duy T và anh Nguyễn Thanh T2; hưởng lợi số tiền lớn nhất nên bị cáo T6 có vai trò cao nhất trong vụ án, cấp sơ thẩm xác định là có căn cứ.
Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân xấu, đã được giáo dục cải tạo nhưng không tự tu dưỡng, rèn luyện mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội do cố ý.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Phạm Xuân T6 thực hiện hành vi mua bán 02 người trở lên, tuy nhiên đây là tình tiết định khung hình phạt nên cấp sơ thẩm xác định không phải là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 02 lần trở lên” là có căn cứ.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thấy: Bị cáo thực hiện hành vi mua bán người, hành vi này không những xâm phạm đến quyền nhân thân, quyền con người của các bị hại mà còn gây ra các hệ lụy, làm ảnh hưởng đến sức khỏe, tinh thần của các bị hại. Đặc biệt hành vi mua bán người trong những năm qua đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự xã hội, những bị hại bị mua bán đều bị ép làm việc tại các Công ty làm ăn phi pháp, bị đánh đập, việc làm của bị cáo không những xâm phạm đến quyền nhân thân, quyền con người của chính các bị hại mà còn gián tiếp, tiếp tay cho các tội phạm khác như lừa đảo, đánh bạc... nên Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 10 (mười) năm tù là có căn cứ, đảm bảo sự răn đe, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung.
Tại quá trình xét xử phúc thẩm, bị cáo Phạm Xuân T6 đã xuất trình thêm một số tài liệu là Huy chương chiến sỹ vẻ vang hạng Ba và Huy chương chiến sỹ vẻ vang hạng Nhì. Đây là tình tiết giảm nhẹ mới phát sinh trong quá trình xét xử phúc thẩm được quy định tại điểm v khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên Hội đồng xét xử thấy có căn cứ chấp nhận kháng cáo, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, sửa một phần bản án sơ thẩm như quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, cần được chấp nhận.
Về việc án sơ thẩm tuyên thời gian chấp hành hình phạt tù của bị cáo từ ngày 20/4/2023 là không chính xác vì trong vụ án này bị cáo không bị tạm giam. Ngày 20/4/2023 bị cáo bị Cơ quan CSĐT công an tỉnh L bắt, tạm giam trong vụ án khác.
Về nội dung bị cáo trình bày số tiền thu lợi bất chính là 30.000.000 đồng, Hội đồng xét xử thấy: Căn cứ vào tài liệu trong quá trình điều tra vụ án, kết quả tranh tụng tại cấp sơ thẩm, bản án sơ thẩm xác định số tiền bị cáo thu lợi bất chính 117.685.000 đồng là có căn cứ nên không chấp nhận quan điểm của bị cáo về việc xác định lại số tiền thu lợi bất chính.
[4] Về án phí:
Do chấp nhận kháng cáo, sửa án sơ thẩm nên bị cáo không phải chịu án phí phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí tòa án.
QUYẾT ĐỊNH:
- Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Phạm Xuân T6;
- Về án phí: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 203/2024/HS-ST ngày 08 tháng 4 năm 2024 của Toà án nhân dân thành phố Hà Nội về hình phạt đối với bị cáo Phạm Xuân T6, cụ thể như sau:
Áp dụng điểm e khoản 2 Điều 150; Điều 38; Điều 50; Điều 58; điểm s, điểm v khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự;
Tuyên bố bị cáo Phạm Xuân T6 phạm tội “Mua bán người”.
Xử phạt bị cáo Phạm Xuân T6 09 (chín) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ong Thân T |
Quyết định số 872/2024/HS-PT ngày 23/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về hình sự phúc thẩm (tội mua bán người)
- Số quyết định: 872/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Tội Mua bán người)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 23/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận kháng cáo Sửa Bản án sơ thẩm
