Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

----------

Quyết định giám đốc thẩm

Số: 86/2024/DS-GĐT

Ngày: 23/4/2024

V/v tranh chấp đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

ỦY BAN THẨM PHÁN

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thanh Duyên

Các Thẩm phán: Ông Bùi Đức Xuân

Ông Nguyễn Xuân Thiện

Thư ký phiên tòa: Ông Lê Minh Luông, Thẩm tra viên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh

tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Xuân Lượng, Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa giám đốc thẩm xét xử vụ án dân sự về “Tranh chấp đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất” giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: bà Nguyễn Thị Thái T, sinh năm 1980; địa chỉ: ấp Đ, xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
  2. Bị đơn: ông Nguyễn Quang L, sinh năm 1969; địa chỉ: ấp Đ, xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn, bà Nguyễn Thị Thái T trình bày:

Ngày 23/10/2002, bà có nhận chuyển nhượng của bà Trịnh Thị Đ diện tích 1.471m² thuộc thửa đất số 193, tờ bản đồ số 06 tọa lạc tại xã G, huyện T (nay là huyện T), tỉnh Đồng Nai, với giá 28.000.000 đồng. Hợp đồng được Ủy ban nhân dân xã G chứng thực và được Ủy ban nhân dân huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số U 301222. Sau đó bà T cho ông Nguyễn Quang L (anh ruột của bà T) mượn đất để sử dụng, việc cho mượn đất không có làm giấy tờ, nay bà T khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Quang L trả lại đất cho bà.

- Bị đơn ông Nguyễn Quang L trình bày:

Nguồn gốc thửa đất số 193 nêu trên là do ông nhận chuyển nhượng của bà Trịnh Thị Đ vào năm 2002, với số tiền là 24.000.000 đồng. Sau khi nhận chuyển nhượng do phải đi làm ăn, buôn bán xa nhà nên ông nhờ bà T (là em ruột ông) kê khai đăng ký và đứng tên dùm trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nay ông về sinh sống tại xã G và có nhu cầu sử dụng đất nên yêu cầu bà T làm thủ tục sang tên thửa đất lại cho ông, nhưng bà T không đồng ý và phát sinh tranh chấp. Nay bà T yêu cầu trả lại đất ông không đồng ý.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 21/2022/DS-ST ngày 15 tháng 6 năm 2022, Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, quyết định:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện “Tranh chấp kiện đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất” của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thái T đối với bị đơn ông Nguyễn Quang L.

Buộc ông Nguyễn Quang L phải trả lại cho bà Nguyễn Thị Thái T diện tích 1.509,5m² đất thuộc thửa đất số 193, tờ bản đồ số 06, tọa lạc xã G, huyện T, (được giới hạn bởi các điểm 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 1) theo bản trích lục và đo vẽ thửa đất bản đồ địa chính số 1444/2022 ngày 25/02/2022 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ - Chi nhánh T3.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí sơ thẩm và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 23/6/2022, ông Nguyễn Quang L có đơn kháng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm nêu trên.

Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 57/2023/DS-PT ngày 06 tháng 4 năm 2023, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai, quyết định:

Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Quang L. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 21/2022/DS-ST ngày 15/6/2022 của Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện “Tranh chấp kiện đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất” của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thái T đối với bị đơn ông Nguyễn Quang L.
  2. Buộc ông Nguyễn Quang L phải trả lại cho bà Nguyễn Thị Thái T diện tích 1.509,5m² đất thuộc thửa đất số 193, tờ bản đồ số 06, tọa lạc xã G, huyện T, (được giới hạn bởi các điểm 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 1) theo bản trích lục và đo vẽ thửa đất bản đồ địa chính số 1444/2022 ngày 25/02/2022 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ - Chi nhánh T3.

Ngoài ra, Tòa án cấp phúc thẩm còn quyết định về án phí sơ thẩm, án phí phúc thẩm của các đương sự.

Ngày 05/6/2023, ông Nguyễn Quang L có đơn đề nghị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm đối với bản án dân sự phúc thẩm nêu trên.

Tại Quyết định kháng nghị số 11/QĐ-VKS-DS ngày 21/12/2023, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh kháng nghị Bản án dân sự phúc thẩm số 57/2023/DS-PT ngày 06 tháng 4 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai, đề nghị Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử giám đốc thẩm, hủy toàn bộ bản án dân sự phúc thẩm và bản án dân sự sơ thẩm nêu trên.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Ủy ban Thẩm phán chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Bà Nguyễn Thị Thái T xác định bà là người nhận chuyển nhượng diện tích 1.509,5m² đất thuộc thửa đất số 193, tờ bản đồ số 06 của bà Trịnh Thị Đ với giá là 28.000.000 đồng và cho ông Nguyễn Quang L là anh ruột bà mượn đất canh tác. Để chứng minh nguồn gốc của số tiền 28.000.000 đồng, bà T cho rằng do bà tiết kiệm được từ việc làm công nhân. Tuy nhiên, bà không xuất trình được chứng cứ chứng minh bà là người giao trả tiền nhận chuyển nhượng đất cho bà Đ. Trong khi bên chuyển nhượng đất là bà Đ (đã chết), nhưng hiện có hai người con của bà Đ là ông Đoàn Văn N và ông Đoàn Văn Q là những người cùng với bà Đ thỏa thuận chuyển nhượng thửa đất số 193 nêu trên đều xác nhận: quá trình thỏa thuận chuyển nhượng đất giữa ông L với bà Đ chỉ có ông L là người gặp trực tiếp thương lượng và viết giấy tờ giao tiền cho bà Đ. Sau đó, bên gia đình bà Đ đã bàn giao thửa đất 193 cho ông L quản lý, sử dụng cho đến nay.

[2] Mặt khác, sau khi nhận chuyển nhượng đất do gia đình bà Đ giao, ông L đã san lấp, xây dựng tường rào, kho chứa và cải tạo đất, đóng thuế sử dụng đất hàng năm cho Nhà nước. Hơn nữa, theo lời trình bày của ông Đỗ Công B (cán bộ địa chính xã G) xác nhận: Khoảng tháng 01/2002, ông Nguyễn Quang L có liên hệ nhờ ông làm thủ tục đăng ký biến động sang tên chủ quyền đất đai, cụ thể là thực hiện sang tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 193, tờ bản đồ số 06 thuộc xã G từ tên bà Trịnh Thị Đ sang tên bà Nguyễn Thị Thái T, lúc này có mặt ông L, bà T và bà Đ cùng đến Ủy ban nhân dân xã G làm thủ tục chuyển quyền, nhưng đất là do ông L trực tiếp quản lý, sử dụng.

[3] Ngoài ra, lời khai của các anh, chị, em ruột của ông L và bà T là bà Nguyễn Thị Thanh V, Nguyễn Thị Kim T1, Nguyễn Văn Q1, Nguyễn Tiến D, Nguyễn Oanh T2 cũng xác định ông L là người nhận chuyển nhượng thửa đất 193 của bà Đ và nhờ bà T đứng tên dùm, nên sau khi bà T được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bà T đã giao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông L cất giữ.

[4] Qua lời khai của những người làm chứng với lời khai của ông L và bà T còn nhiều mâu thuẫn cần phải được đối chất làm rõ để xác định ai là người nhận chuyển nhượng đất của bà Đ, ai là người trực tiếp trả tiền cho bà Đ, số tiền nhận chuyển nhượng là bao nhiêu thì mới có căn cứ vững chắc giải quyết vụ án. Tuy nhiên, khi chưa đối chất làm rõ các nội dung trên, Tòa án hai cấp căn cứ vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho bà Nguyễn Thị Thái T để tuyên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T, buộc ông L phải trả lại cho bà T thửa đất số 193 hiện ông L đang quản lý, sử dụng là không phù hợp với tình tiết khách quan của vụ án, làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 325; Điều 334; Điều 342; Điều 343 của Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015;

  1. Chấp nhận Quyết định kháng nghị số 11/QĐ-VKS-DS ngày 21/12/2023 của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
  2. Hủy toàn bộ Bản án dân sự phúc thẩm số 57/2023/DS-PT ngày 06/4/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai và Bản án dân sự sơ thẩm số 21/2022/DS-ST ngày 15/6/2022 của Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom xét xử vụ án “Tranh chấp kiện đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất” giữa nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Thái T với bị đơn là ông Nguyễn Quang L.

Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai xét xử lại sơ thẩm theo đúng quy định của pháp luật.

  1. Quyết định giám đốc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định giám đốc thẩm./.

Nơi nhận:

  • - Chánh án TAND cấp cao (để báo cáo);
  • - Vụ pháp chế và Quản lý khoa học xét xử;
  • - VKSNDCC;
  • - TAND Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • - TAND huyện Trảng Bom;
  • - Chi cục THADS huyện Trảng Bom;
  • - Các đương sự (theo địa chỉ);
  • - Lưu Phòng LTHS, HS, THS. (LML).

TM.ỦY BAN THẨM PHÁN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Thanh Duyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Quyết định số 86/2024/DS-GĐT ngày 23/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất

  • Số quyết định: 86/2024/DS-GĐT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Giám đốc thẩm
  • Ngày ban hành: 23/04/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận quyết định kháng nghị, huỷ toàn bộ bản án sơ thẩm
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger