|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Quyết định giám đốc thẩm
| Số: 83/2024/DS-GĐT | |
| Ngày 22-4-2024 | |
| V/v tranh chấp quyền sử dụng đất |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
ỦY BAN THẨM PHÁN
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Xuân Thiện
Các Thẩm phán:
| ông Võ Văn Khoa | ông Bùi Đức Xuân |
Thư ký phiên tòa: ông Phạm Anh Quân – Thẩm tra viên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Ngát – Kiểm sát viên cao cấp.
Ngày 22 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa giám đốc thẩm xét xử vụ án dân sự về “Tranh chấp quyền sử dụng đất” giữa:
- Nguyên đơn: ông Võ Văn M, sinh năm 1955;
Địa chỉ: ấp C, xã T, huyện P, tỉnh Cà Mau.
- Bị đơn: ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1965;
Địa chỉ: ấp A, xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Thị M1, sinh năm 1969;
- Ông Nguyễn Tấn P, sinh năm 1982;
- Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1982;
Ông C, bà M1, ông P, bà D cùng ủy quyền cho bà Phan Thị C1, sinh năm 1956;
Cùng địa chỉ: ấp A, xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre.
- Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Bến Tre;
Địa chỉ: khu phố B, thị trấn B, huyện B, tỉnh Bến Tre.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn ông Võ Văn M trình bày: Phần đất tranh chấp có diện tích qua đo đạc thực tế là 152,3m², thuộc thửa số 488, tờ bản đồ số 04, tọa lạc tại xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre có nguồn gốc của cha, mẹ nguyên đơn là cụ Võ Văn H và cụ Nguyễn Tuyết M2 nhận chuyển nhượng của người khác mà có. Phần đất này, trước năm 1975 bà Võ Thị L (chị ruột ông H) cất nhà ở, ông Võ Văn H về cất nhà ở sau năm 1975. Ông Võ Văn M (Minh A – con ông H) về ở, quản lý rồi kê khai, đăng ký và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 1997. Năm 2012, ông Minh A lập thủ tục tặng cho ông Võ Văn M. Nguyên đơn ông Võ Văn M khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị M1, ông Nguyễn Tấn P, bà Nguyễn Thị Diễm di d nhà, chuồng bò đi nơi khác để trả lại cho ông diện tích đất 152,3 m² thuộc thửa 488, tờ bản đồ số 04 nêu trên.
Bị đơn ông Nguyễn Văn C trình bày: Nguồn gốc đất là của ông bà để lại, bà Võ Thị H1 (cháu ruột ông H) ở trên phần đất này từ trước năm 1975. Bị đơn không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bị đơn có yêu cầu phản tố đề nghị Tòa án hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 488, tờ bản đồ số 04 nêu trên đã được Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Bến Tre cấp cho ông Võ Văn M năm 2012.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 33/2020/DS-ST ngày 08/7/2020, Tòa án nhân dân huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre quyết định:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Võ Văn M. Buộc ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị M1, anh Nguyễn Tấn P, chị Nguyễn Thị D phải di dời nhà chính, mái che trả lại cho ông M phần đất có diện tích qua đo đạc thực tế 152,3m² (phần 2, 3, 4 của họa đồ) thuộc một phần thửa số 488, tờ bản đồ số 04 tọa lạc tại xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre (có họa đồ ngày 18/3/2020 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện B kèm theo).
- Bác yêu cầu phản tố của ông Nguyễn Văn C về việc yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà Ủy ban nhân dân huyện B cấp cho ông Võ Văn M tại thửa đất số 488, tờ bản đồ số 04 vào ngày 27/3/2012.
Ghi nhận sự tự nguyện của ông Võ Văn M, ông Nguyễn Văn C không yêu cầu đối với chuồng bò của bà Nguyễn Thị N và đồng ý tự thỏa thuận, giải quyết với bà N.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng, quyền kháng cáo, quyền và nghĩa vụ thi hành án.
Ngày 20/7/2020, bị đơn ông Nguyễn Văn C kháng cáo bản án dân sự sơ thẩm nêu trên, yêu cầu Tòa án hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà Ủy ban nhân dân huyện B cấp cho ông Võ Văn M tại thửa đất số 488, tờ bản đồ số 04.
Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 373/2020/DS-PT ngày 31/12/2020, Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre quyết định:
Sửa một phần bản án sơ thẩm số 33/2020/DS-ST ngày 08/7/2020 của Tòa án nhân dân huyện Ba Tri, cụ thể tuyên:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Võ Văn M về việc yêu cầu ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị M1, anh Nguyễn Tấn P, chị Nguyễn Thị D trả cho ông Võ Văn M phần đất có diện tích qua đo đạc thực tế 152,3m² (phần 2, 3, 4 của họa đồ) thuộc một phần thửa số 488 tờ bản đồ số 04 tọa lạc tại xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre.
- Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Nguyễn Văn C về việc yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà Ủy ban nhân dân huyện B cấp cho ông Võ Văn M tại thửa đất số 488 tờ bản đồ số 04 vào ngày 27/3/2012.
Ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị M1, anh Nguyễn Tấn P, chị Nguyễn Thị D được quyền sử dụng phần đất có diện tích qua đo đạc thực tế 152,3m² (phần 2, 3, 4 của họa đồ) thuộc một phần thửa số 488 tờ bản đồ số 04 tọa lạc tại xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre.
(Kèm theo họa đồ ngày 18/3/2020 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện B).
Kiến nghị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền điều chỉnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân huyện B cấp cho ông Võ Văn M số BI822123 ngày 27/3/2012.
Ghi nhận sự tự nguyện của ông Võ Văn M, ông Nguyễn Văn C không yêu cầu đối với chuồng bò của bà Nguyễn Thị N và đồng ý tự thỏa thuận, giải quyết với bà N.
Ngoài ra, Tòa án cấp phúc thẩm còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng, quyền và nghĩa vụ thi hành án.
Ngày 01/3/2021 và ngày 04/01/2024, nguyên đơn ông Võ Văn M có đơn đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm đối với bản án dân sự phúc thẩm nêu trên.
Tại Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 05/2024/KN-DS ngày 06/02/2024, Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh kháng nghị đối với bản án dân sự phúc thẩm nêu trên. Đề nghị Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử giám đốc thẩm hủy bản án dân sự phúc thẩm, giao hồ sơ cho Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử lại phúc thẩm theo đúng quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh chấp nhận kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Phần đất tranh chấp đo đạc thực tế có diện tích 152,3m², thuộc một phần thửa số 488, tờ bản đồ số 04, tọa lạc tại xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre do ông Võ Văn M đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp ngày 27/3/2012. Trên đất có các công trình là nhà chính, mái che của gia đình ông Nguyễn Văn C xây dựng và đang quản lý, sử dụng. Ông Võ Văn M khởi kiện yêu cầu ông C di dời tài sản trả lại quyền sử dụng đất cho ông vì cho rằng gia đình ông C xây dựng nhà trái phép trên đất của ông. Ông C không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vì cho rằng phần đất tranh chấp là của ông bà để lại cho ông nên thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông. Ông C yêu cầu Tòa án hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông M.
[2]. Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn và bị đơn đều thừa nhận nguồn gốc phần đất tranh chấp là do cụ Võ Văn H và cụ Nguyễn Tuyết M2 (là cha mẹ của ông M) nhận chuyển nhượng từ trước năm 1975. Tại Biên bản xác minh ngày 13/3/2020, Ủy ban nhân dân xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre cũng xác định nguồn gốc phần đất tranh chấp là của cụ H. Sau khi nhận chuyển nhượng đất, cụ H cho chị gái là cụ Võ Thị L cất nhà để ở. Sau năm 1975, cụ H mới về ở trên phần đất tranh chấp. Năm 1997, ông Võ Văn M (còn gọi là Minh A là anh trai ông Võ Văn M – nguyên đơn) kê khai, đăng ký và được cấp quyền sử dụng đất. Năm 2012, ông Võ Văn M (Minh A) lập thủ tục tặng cho ông Võ Văn M (nguyên đơn) phần đất tranh chấp. Thủ tục tặng cho đã hoàn tất, ông Võ Văn M (nguyên đơn) đã được đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Như vậy, phần đất tranh chấp có nguồn gốc là của cha mẹ nguyên đơn, gia đình nguyên đơn có quá trình sử dụng đất, kê khai đăng ký và được cấp giấy chứng nhận, nên phần đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng hợp pháp của nguyên đơn như Tòa án cấp sơ thẩm nhận định là có căn cứ.
[3]. Ông Nguyễn Văn C (là con của bà Võ Thị H1, bà H1 là con của cụ Võ Thị S, cụ S là chị ruột của cụ Võ Văn H) cho rằng cụ S đã ở trên phần đất tranh chấp từ trước năm 1975, sau đó để lại cho bà H1 sử dụng. Sau khi bà H1 chết thì ông C tiếp tục sử dụng đất cho đến nay. Tuy nhiên, ông C không chứng minh được nguồn gốc phần đất tranh chấp là của cụ S để lại hay cụ H đã tặng cho, chuyển nhượng cho cụ S phần đất này. Năm 1996 – 1997, ông C kê khai, đăng ký đối với các thửa đất khác nhưng không đăng ký, kê khai đối với phần đất tranh chấp, cũng không phản đối việc ông Võ Văn M (Minh A) kê khai, đăng ký và được cấp quyền sử dụng đất. Năm 2019, ông C xây dựng nhà kiên cố trên đất, ông M có ngăn cản, chính quyền địa phương lập biên bản đình chỉ xây dựng nhưng ông C vẫn tiếp tục hoàn thành công trình nhà ở như hiện nay. Như vậy, ông C không chứng minh được nguồn gốc đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng hợp pháp của mình, không chứng minh được có quá trình sử dụng đất lâu dài, ổn định và việc xây dựng nhà của ông C là không hợp pháp. Do đó, Tòa án cấp phúc thẩm cho rằng gia đình ông C quản lý, sử dụng đất ổn định trên 30 năm là không phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
[4]. Hiện nay, trên đất đã có căn nhà kiên cố của gia đình ông C. Tòa án cấp sơ thẩm buộc gia đình ông C di dời nhà là không thể thi hành án được. Thực tế, ông C không ở trên phần đất này. Do đó, khi giải quyết lại vụ án, Tòa án cần hướng dẫn cho các đương sự thỏa thuận về việc trả giá trị tài sản trên đất. Trường hợp các bên đương sự không thỏa thuận được thì cần buộc phía gia đình ông C tháo dỡ tài sản, trả lại quyền sử dụng đất cho nguyên đơn mới đúng.
Từ những nhận định trên, có căn cứ chấp nhận kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, hủy bản án dân sự phúc thẩm để xét xử phúc thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 337 và Điều 343 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Chấp nhận Kháng nghị giám đốc thẩm số 05/2024/KN-DS ngày 06 tháng 02 năm 2024 của Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Hủy Bản án dân sự phúc thẩm số 373/2020/DS-PT ngày 31 tháng 12 năm 2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre về vụ án “Tranh chấp quyền sử dụng đất” giữa nguyên đơn là ông Võ Văn M với bị đơn là ông Nguyễn Văn C và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác. Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử lại phúc thẩm theo đúng quy định của pháp luật.
- Quyết định giám đốc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.
|
Nơi nhận:
|
TM. ỦY BAN THẨM PHÁN THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Xuân Thiện |
| ỦY BAN THẨM PHÁN | |
| Các Thẩm phán | |
| Võ Văn Khoa | |
| Bùi Đức Xuân |
Quyết định số 83/2024/DS-GĐT ngày 22/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số quyết định: 83/2024/DS-GĐT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Giám đốc thẩm
- Ngày ban hành: 22/04/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 1. Chấp nhận Kháng nghị giám đốc thẩm số 05/2024/KN-DS ngày 06 tháng 02 năm 2024 của Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh. 2. Hủy Bản án dân sự phúc thẩm số 373/2020/DS-PT ngày 31 tháng 12 năm 2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre về vụ án “Tranh chấp quyền sử dụng đất” giữa nguyên đơn là ông Võ Văn Minh với bị đơn là ông Nguyễn Văn Chấn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác. Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử lại phúc thẩm theo đúng quy định của pháp luật. 3. Quyết định giám đốc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.
