|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Số: 822/2025/QÐST-HNGĐ |
Thành phố T, ngày 11 tháng 4 năm 2025 |
QUYẾT ĐỊNH
CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN
VÀ SỰ THỎA THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Căn cứ Điều 212 và Điều 213, Điều 397 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các điều 55, 57, 81, 82, 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Luật phí và lệ phí năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Sau khi nghiên cứu hồ sơ việc hôn nhân gia đình thụ lý số 594/2025/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 3 năm 2025 về việc “Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con và chia tài sản khi ly hôn”, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
Người yêu cầu giải quyết việc hôn nhân gia đình:
- - Bà Đỗ Thị M, sinh năm 1984.
- - Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1982.
Cùng địa chỉ: nhà không số (kb G) hẻm C, tổ C, khu phố P, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh
NHẬN ĐỊNH TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ việc và căn cứ lời khai của đương sự trong quá trình tố tụng, Tòa án nhận định:
[1] Về quan hệ hôn nhân:
Người yêu cầu ông Nguyễn Văn H, bà Đỗ Thị M tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2007, có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 48 quyển số năm 2007 do Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng cấp ngày 25/4/2007. Như vậy, quan hệ hôn nhân giữa ông H, bà M là hợp pháp.
Sau khi kết hôn, ông H, bà M chung sống hạnh phúc đến năm 2016, từ năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn: vợ chồng thường xuyên cãi vã. Nguyên nhân mâu thuẫn là vợ chồng không tôn trọng, không chia sẻ được với nhau. Mâu thuẫn ngày càng trầm trọng nên ông H, bà M đã sống ly thân từ năm 2021 cho đến nay. Ông H, bà M đã tự hàn gắn nhiều lần nhưng không có kết quả. Cả hai đều xác định không còn tình cảm vợ chồng với nhau.
Xét tình trạng hôn nhân của ông H, bà M đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên việc ông H, bà M yêu cầu Tòa án công nhận thuận tình ly hôn cho ông bà là có cơ sở chấp nhận.
[2] Về con chung: Có 03 con chung tên Nguyễn Hải N, sinh ngày 04/11/2007, Nguyễn Thị Minh T, sinh ngày 26/8/2012 và Nguyễn Ngọc An N1, sinh ngày 05/01/2023. Ông H, bà M thỏa thuận: Giao con chung tên Nguyễn Hải N và Nguyễn Thị Minh T cho ông H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; Giao con chung tên Nguyễn Ngọc An N1 cho bà M trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ông H, bà M không cấp dưỡng nuôi con qua lại.
Thỏa thuận này của ông H, bà M là tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật, không trái đạo đức xã hội và phù hợp với nguyện vọng của trẻ N, trẻ T tại các Tờ trình bày nguyện vọng ghi ngày 03/4/2025 nên chấp nhận.
[3] Về tài sản chung: Ông H, bà Minh xác Đ không có.
[4] Về nợ chung: Ông H, bà Minh xác Đ không có.
Ngày 03 tháng 4 năm 2025, Tòa án lập biên bản hòa giải đoàn tụ không thành, ghi nhận sự thỏa thuận của các đương sự về việc giải quyết vụ việc;
Đã hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản hòa giải đoàn tụ không thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận đó.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự cụ thể như sau:
- - Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Văn H và bà Đỗ Thị Minh thuận T1 ly hôn;
- Giấy chứng nhận kết hôn số 48 Quyển số năm 2007 do Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng cấp ngày 25/4/2007 cho ông Nguyễn Văn H, bà Đỗ Thị M không còn giá trị pháp lý.
- - Về con chung: Có 03 con chung tên Nguyễn Hải N, sinh ngày 04/11/2007, Nguyễn Thị Minh T, sinh ngày 26/8/2012 và Nguyễn Ngọc An N1, sinh ngày 05/01/2023.
- Giao con chung tên Nguyễn Hải N và Nguyễn Thị Minh T cho ông Nguyễn Văn H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; Giao con chung tên Nguyễn Ngọc An N1 cho bà Đỗ Thị M trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ông H, bà M không cấp dưỡng nuôi con qua lại.
- Người không trực tiếp nuôi dưỡng con chung có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.
- Vì quyền lợi mọi mặt của người con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con, hoặc hạn chế quyền thăm nom, chăm sóc con của người không trực tiếp nuôi con.
- - Về tài sản chung: Ông H, bà Minh xác Đ không có.
- - Về nợ chung: Ông H, bà Minh xác Đ không có.
2. Về lệ phí Tòa án: 300.000 đồng, ông Nguyễn Văn H, bà Đỗ Thị M mỗi người chịu một nửa, được cấn trừ vào 300.000 đồng ông H, bà M đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0073508 ngày 17/03/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông H, bà M đã nộp đủ lệ phí.
3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
THẨM PHÁN Nguyễn Thị Hợi |
Quyết định số 822/2025/QÐST-HNGĐ ngày 11/04/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con và chia tài sản khi ly hôn
- Số quyết định: 822/2025/QÐST-HNGĐ
- Quan hệ pháp luật: Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con và chia tài sản khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/04/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bà M ông H yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn
