Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THẠCH THÀNH

TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 82/2023/HNGĐ-ST

Ngày: 25/8/2023

V/v: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THÀNH TỈNH THANH HOÁ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Cúc

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Đào Quang Tuấn
  2. Bà Quách Thị Tình

Thư ký phiên toà: Ông Trần Văn Hùng - Thư ký Toà án nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Phạm Minh Nghiêm - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 96/2023/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 6 năm 2023 về việc: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 75/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 7 năm 2023 và Quyết định Hoãn phiên tòa số: 48/2023/QÐST-HNGĐ, ngày 11/8/2023 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị G; Sinh năm: 1997
  2. HKTT: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

    Địa chỉ hiện nay: Thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

  3. Bị đơn: Anh Vũ Xuân Đ; Sinh năm: 1992
  4. HKTT và địa chỉ hiện nay: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện đề ngày 06/6/2023 cũng như trong quá trình giải quyết vụ án, chị Nguyễn Thị G trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh Vũ Xuân Đ kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa ngày 24/05/2019. Sau khi kết hôn chỉ hòa thuận được 01 năm thì mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân là do vợ chồng tính tình không hòa hợp, không cùng chung quan điểm sống nên thường xuyên sảy ra cãi cọ. Thêm vào đó, anh Đ có thói quen uống rượu và có hành vi chửi bới, đe dọa chị. Tình trạng trên kéo dài khiến cho chị cảm thấy mệt mỏi và chán nản. Hiện tại, chị và anh Đ đã sống ly thân hơn 01 năm nay, không còn quan tâm gì đến nhau nữa. Đến nay, chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể chung sống với anh Đ được nữa nên đề nghị Tòa án nhân dân huyện Thạch Thành giải quyết cho chị được ly hôn anh Đ.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Vũ Kim Đ, sinh ngày 11/05/2020. Từ khi vợ chồng sống ly thân cháu vẫn ở với chị. Ly hôn, chị G yêu cầu được trực tiếp nuôi con, không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị.

Về tài sản: Chị Giang không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai ngày 20/6/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, anh Vũ Xuân Đ trình bày:

Về hôn nhân: Anh và chị Nguyễn Thị G kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa ngày 24/05/2019. Sau khi kết hôn, vợ chồng hòa thuận được 01 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nay chị G yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, anh cũng đồng ý ly hôn với chị G.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Vũ Kim Đ, sinh ngày 11/05/2020. Ly hôn, anh yêu cầu được trực tiếp nuôi con và không yêu cầu chị G phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh.

Về tài sản: Anh Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát:

Về tố tụng: Tòa án đã xác định đúng quan hệ pháp luật và tư cách tố tụng của các đương sự trong vụ án. Từ giai đoạn thụ lý vụ án cho đến khi mở phiên tòa xét xử sơ thẩm, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án cũng như các thành viên của Hội đồng xét xử (Sau đây viết tắt là HĐXX) và Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự (Sau đây viết tắt là BLTTDS). Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình, còn bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của BLTTDS.

Về nội dung: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng các Điều 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình. Về hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị G và anh Vũ Xuân Đ được ly hôn; Về con chung: Giao cháu Vũ Kim Đ, sinh ngày 11/05/2020 cho chị G trực tiếp nuôi dưỡng, anh Đ không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị G.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định:

[1]. Về tố tụng: Đây là vụ án Hôn nhân và gia đình có con chưa thành niên và trong quá trình giải quyết vụ án, do các bên đương sự chưa thống nhất được các vấn đề tranh chấp trong vụ án nên Tòa án đã tiến hành xác minh để xác định nguyên nhân của việc phát sinh tranh chấp theo khoản 3 Điều 208 BLTTDS và đã thông báo kết quả thu thập tài liệu chứng cứ cho các bên đương sự cũng nhưng VKS được biết.

[2]. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ cho các bên đương sự, nhưng anh Đ vắng mặt nên Tòa án đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ vắng mặt anh Đ và đã thông báo kết quả kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ cho anh Đ theo khoản 3 Điều 210 BLTTDS.

[3]. Chị Nguyễn Thị G có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải nên Toà án không tiến hành hoà giải được. Đây là trường hợp không tiến hành hoà giải được theo quy định tại khoản 4 Điều 207 BLTTDS.

[4]. Tại phiên tòa, chị G và anh Đ vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 BLTTDS, Toà án xét xử vắng mặt chị G và anh Đ.

[5]. Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị G và anh Vũ Xuân Đ kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa ngày 24/05/2019 và không vi phạm các điều cấm của Luật hôn nhân và gia đình, là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng hòa thuận được 01 năm thì mâu thuẫn trầm trọng. Việc này, cả chị G và anh Đ đều thừa nhận và cũng phù hợp với nội dung mà Tòa án đã tiến hành xác minh tại địa phương. Nay cả chị G và anh Đ đều xác định tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh, chị được ly hôn. HĐXX nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, cần căn cứ điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử cho chị Nguyễn Thị G và anh Vũ Xuân Đ được ly hôn.

[6]. Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Vũ Kim Đ, sinh ngày 11/05/2020. Xét thấy, cháu Đ là con gái, lại đang còn nhỏ rất cần sự chăm sóc của người mẹ. Mặt khác, hiện nay cháu cũng đang ở với mẹ. Do đó, nên chấp nhận yêu cầu của chị G, giao cháu Đ cho chị G trực tiếp nuôi dưỡng sẽ là phù hợp về mặt tình cảm và giới tính, anh Đ không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị G.

[7]. Về tài sản: Chị G và anh Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét.

[8]. Về án phí: Chị G phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 147 BLTTDS; Điều 6; Khoản 1 Điều 24; Điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

  1. Về hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị G và anh Vũ Xuân Đ được ly hôn.
  2. Về con chung: Giao cháu Vũ Kim Đ, sinh ngày 11/05/2020 cho chị G trực tiếp nuôi dưỡng, anh Đ không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị G.
  3. Anh Đ có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở.

  4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị G phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí DSST đã nộp là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạch Thành theo biên lai số AA/2021/0008072 ngày 08/06/2023. Chị G đã nộp đủ tiền án phí.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm, vắng mặt chị Nguyễn Thị G và anh Vũ Xuân Đ. Chị G và anh Đ có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Thạch Thành;
  • - UBND xã Thành Minh;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Cúc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Quyết định số 82/2023/HNGĐ-ST ngày 25/08/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THÀNH TỈNH THANH HOÁ về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số quyết định: 82/2023/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/08/2023
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THÀNH TỈNH THANH HOÁ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận đơn yêu cầu
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger