TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ TỈNH BÌNH PHƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Số: 82/2024/QĐ-T2, ngày 20 tháng 9 năm 2024 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ, TỈNH BÌNH PHƯỚC
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
- Thẩm phán – Chủ trì phiên họp: Ông Nguyễn Nguyên H
- Thư ký phiên họp: Ông Hồ Phương Tình
Ngày 20 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với việc hành chính thụ lý số 81/2024/TB-TLHS ngày 13 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định mở phiên họp số 81/2024/QĐ-TA ngày 13 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước đối với:
Họ và tên: Bùi Văn T;
Sinh năm 1994, N sinh: Bình Phước;
Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không;
Trình độ văn hóa: 6/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do.
Nơi cư trú: tổ B, ấp A, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước.
Con ông Bùi Văn T1, và con bà Cao Thị K
Người bị đề nghị: Ông Bùi Văn T (vắng mặt không có lý do).
Có sự tham gia của:
- Đại diện cơ quan đề nghị: ông Phạm Hoài S – Cán bộ Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Đ, tỉnh Bình Phước.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú: ông Đoàn Lương Hoàng - Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY:
Ông Bùi Văn T bắt đầu sử dụng ma túy từ năm 2018. Tuy nhiên từ tháng 8 năm 2024 đến nay tần đã liên tục sử dụng trái phép chất ma tuý mỗi tuần 01 lần. Đến ngày 05 tháng 9 năm 2024, ông T bị Công an xã T, huyện Đ tiến hành kiểm tra người nghi vấn sử dụng trái phép chất ma túy, lập biên bản vi phạm và đưa đi xét nghiệm. Tại phiếu trả lời kết quả ngày 06 tháng 9 năm 2024, của Trung tâm y tế huyện Đ xác định ông T dương tính với chất ma túy (loại ma túy sử dụng: Ma túy đá).
Tại bản tường trình và biên bản ghi lời khai ngày 05/9/2024, ông T đã thừa nhận toàn bộ hành vi của mình và có đơn xin đề nghị được đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc không cai nghiện tại gia đình. Gia đình T cũng có văn bản từ chối giúp đỡ, quản lý người nghiện tại gia đình và mong muốn đưa T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Ngày 09/9/2024, UBND xã T có văn bản số 86/ĐN-CNBB đề nghị xem xét áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Bùi Văn T.
Tại phiên họp, đại diện Phòng Lao động - Thương binh và xã hội huyện Đ có ý kiến: Ông T bắt đầu sử dụng ma túy từ năm 2018, tuy nhiên ông T và gia đình từ chối cai nghiện tại gia đình nên cần đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian là 24 (Hai mươi bốn) tháng để ông T có đủ thời gian cai nghiện, từ bỏ ma túy, trở về xã hội làm người công dân tốt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú tham gia phiên họp nêu ý kiến: Việc tuân thủ pháp luật của Thẩm phán từ khi thụ lý hồ sơ cho đến khi mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Đề nghị Tòa án chấp nhận đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và xã hội huyện Đ, đưa ông Bùi Văn T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian từ 18 (Mười tám) đến 24 (Hai mươi bốn) tháng.
XÉT THẤY:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ việc, quá trình thẩm tra tại phiên họp và căn cứ vào ý kiến đề xuất của những người tham gia, nhận thấy:
Hồ sơ đề nghị được lập đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 41 của Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21 tháng 12 năm 2021 và Điều 103 của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, được sửa đổi, bổ sung năm 2020. Tuy nhiên, quá trình lập hồ sơ để đưa T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc còn một số vi phạm theo Điều 33 của Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21 tháng 12 năm 2021 cụ thể: quá trình làm việc thì cả T và gia đình đều có mong muốn được đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, từ chối cai nghiện tại địa phương nhưng UBND xã vẫn ra Quyết định số 33/QĐ-UBND ngày 08/9/2024 về việc cai nghiện ma tuý tự nguyện tại gia đình là chưa chính xác cần nhắc nhở rút kinh nghiệm.
Thời hiệu để áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Bùi Văn T là đúng theo quy định tại khoản 2 Điều 6 và Điều 7 của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, được sửa đổi, bổ sung năm 2020.
Xét thấy, ông T là người đã thành niên, có đủ năng lực hành vi dân sự và nhận thức được rằng ma túy là chất độc dược gây nghiện được Nhà nước độc quyền quản lý và cấm tàng trữ, sử dụng trái phép. Nhưng, để thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân, ông T vẫn bất chấp pháp luật, tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy trong thời gian dài.
Hành vi của ông T không những ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của chính bản thân mà còn gây mất trật tự trị an tại địa phương. Do đó, để đảm bảo an toàn cho xã hội, tránh phát sinh các tệ nạn xã hội khác tại địa phương đồng thời tạo điều kiện cho ông T có cơ hội sửa chữa bản thân, đoạn tuyệt với ma túy, trở thành người có ích cho gia đình và xã hội, cần thiết phải áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông T.
Xét đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và xã hội huyện Đ; Ý kiến của Kiểm sát viên về việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Bùi Văn T cùng các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ là phù hợp với quy định tại Điều 95 và Điều 96 của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, được sửa đổi, bổ sung năm 2020 nên cần được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 95; Điều 96; Điều 105; Điều 107 và Điều 110 của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, được sửa đổi, bổ sung năm 2020;
Căn cứ Điều 20; Điều 22; Điều 23; Điều 30; Điều 31 và Điều 32 của Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân;
Căn cứ Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21 tháng 12 năm 2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.
- Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với: Ông Bùi Văn T; Sinh năm: 1994; Nơi sinh: Bình Phước; HKTT: Tổ B, ấp A, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Trình độ văn hóa: 6/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Bùi Văn T1, con bà Cao Thị K.
- Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 (Hai mươi bốn) tháng kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Nơi chấp hành: Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Bình Phước - Địa chỉ: Ấp E, xã M, thị xã C, tỉnh Bình Phước.
- Trưởng Phòng Lao động - Thương binh và xã hội huyện Đ có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 05 (Năm) ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.
Ông Bùi Văn T có quyền khiếu nại quyết định này trong thời hạn 05 (Năm) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa án hoặc kể từ ngày quyết định được niêm yết công khai theo quy định.
- Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
- Cơ quan thi hành quyết định: Công an huyện Đ; Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Đ; Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Bình Phước; Ủy ban nhân xã T, huyện Đ và ông Bùi Văn T chịu trách nhiệm thi hành quyết định này./.
Nơi nhận:
| THẨM PHÁN Nguyễn Nguyên Hoàng |
Quyết định số 82/2024/QĐ-T2 ngày 20/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ, TỈNH BÌNH PHƯỚC về áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
- Số quyết định: 82/2024/QĐ-T2
- Quan hệ pháp luật: Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/09/2024
- Loại vụ/việc: Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bùi Văn Tuấn
