Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Quyết định số: 82/2024/HS-GĐT

Ngày: 20/11/2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

ỦY BAN THẨM PHÁN TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: ông Phan Thanh Tùng;

Các Thẩm phán: ông Bùi Đức Xuân;

bà Phạm Thị Duyên.

Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Văn Mạnh, Thẩm tra viên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: bà Cao Thị Hạnh, Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa giám đốc thẩm xét xử vụ án hình sự đối với:

-Bị cáo Phạm Thanh S, sinh ngày 07/08/1981 tại Quảng Ngãi; nơi cư trú: tổ A, ấp C, xã A, huyện P, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: lớp 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; là con của ông Phạm L (sinh năm 1953) và bà Trà Thị H (sinh năm 1954);

Bị cáo có vợ là Phạm Thị Thúy V (sinh năm 1983); có 02 người con (người con lớn sinh năm 2010, người con nhỏ sinh năm 2012);

Tiền án, tiền sự: không;

Về nhân thân:

-Vào ngày 15/12/2000, bị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xử phạt 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân” (bản án hình sự phúc thẩm số 66/HSPT); chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 10/04/2001 tại Trại tạm giam Công an tỉnh B.

-Vào ngày 25/7/2002, bị Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương xử phạt 12 (mười hai) tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” (bản án hình sự sơ thẩm số 14/HSST); chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 09/04/2003 tại Trại giam A.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”.

-Người bị hại:

Ông Phan Tâm C, sinh năm 1969;

Địa chỉ: ấp C, xã A, huyện P, tỉnh Bình Dương.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Vào khoảng 10 giờ ngày 14/02/2023, Phạm Thanh S, Nguyễn Văn H1, Trần Văn V1 đến nhà ông Phan Tâm C (ở ấp C, xã A, huyện P, tỉnh Bình Dương) để uống rượu, bia.

Đến 14 giờ cùng ngày, ông C và S phát sinh xích mích, cãi nhau; S cầm ly thủy tinh (dùng để uống bia) đánh vào vùng mặt ông C, rồi bỏ ra ngoài, dắt xe đạp đi về. Ông C đuổi theo; S và ông C tiếp tục giằng co, xô xát với nhau. S đi về phía trước nhà ông C khoảng 05 mét, nhặt 01 cục bê-tông (có kích thước 10x10x5cm) ném trúng vào trán, làm ông C ngã xuống đường, được người dân đưa đi cấp cứu.

Tại bản kết luận pháp y về thương tích số 166/2023/GĐPY ngày 21/3/2023 Trung tâm Pháp y tỉnh B kết luận về tỷ lệ tổn thương cơ thể của ông Phan Tâm C do thương tích gây ra, tại thời điểm giám định, là 30%.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 87/2023/HS-ST ngày 19/09/2023, Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương xét xử như sau:

-Áp dụng Điểm đ Khoản 2 Điều 134; các Điểm b, s Khoản 1 Điều 51; các Điều 38, 46, 47, 50 của Bộ luật Hình sự năm 2015: xử phạt Phạm Thanh S 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và tuyên quyền kháng cáo theo luật định.

Trong thời hạn kháng cáo, Phạm Thanh S có đơn kháng cáo xin giảm hình phạt. Đến ngày 14/12/2023, Phạm Thanh S có đơn rút lại toàn bộ kháng cáo.

Vào ngày 11/10/2023, Tòa án cấp sơ thẩm ra thông báo số 84/2023/TB-TA để sửa chữa, bổ sung bản án sơ thẩm (do có sai sót khi đánh máy).

Tại quyết định đình chỉ việc xét xử phúc thẩm số 82/2023/HSPT-QĐ ngày 14/12/2023, Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương quyết định như sau:

-Đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 248/2023/TLPT-HS ngày 06/11/2023 đối với bị cáo Phạm Thanh S;

-Bản án hình sự sơ thẩm số 87/2023/HS-ST ngày 19/09/2023 của Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm.

Tại quyết định số 209/QĐ-VC3-V1 ngày 12/9/2024, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh kháng nghị bản án hình sự sơ thẩm số 87/2023/HS-PT ngày 19/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương theo thủ tục giám đốc thẩm, đề nghị hủy toàn bộ bản án hình sự sơ thẩm để xét xử lại;

Lý do như sau:

Tòa án cấp sơ thẩm đã bỏ sót tình tiết định khung tăng nặng hình phạt, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, áp dụng hình phạt không tương xứng với mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội của bị cáo, cụ thể như sau:

-Bản án hình sự sơ thẩm số 14/HSST ngày 25/07/2002 của Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo xử phạt bị cáo 12 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” và buộc bị cáo nộp 1.000.000 đồng (sung quỹ Nhà nước), nộp 50.000 đồng án phí sơ thẩm, nhưng cho đến nay, bị cáo chưa nộp án phí. Mặt khác, bản án sơ thẩm số 14/HSST ngày 25/07/2002 đã ghi nhận rằng việc bị cáo S bị xét xử theo bản án phúc thẩm số 66/HSPT ngày 15/12/2000 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương, là tiền án. Hành vi phạm tội của bị cáo đối với người bị hại thuộc vào trường hợp “Phạm tội có tính chất côn đồ”;

-Như vậy, việc Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo S nhưng không áp dụng tình tiết “Tái phạm nguy hiểm” làm tình tiết định khung hình phạt, không áp dụng tình tiết “Phạm tội có tính chất côn đồ” làm tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, khi quyết định hình phạt, là không đúng pháp luật.

Tại phiên tòa giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng giám đốc thẩm chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]Vào khoảng 14 giờ ngày 14/02/2023 (tại nhà số C, ấp C, xã A, huyện P, tỉnh Bình Dương), vì xảy ra việc xích mích giữa hai bên, Phạm Thanh S đã dùng ly thủy tinh đánh vào mặt ông Phan Tâm C. Sau đó, khi S lấy xe đạp để bỏ đi về, thì ông Phan Tâm C đuổi theo. Vì vậy, hai bên tiếp tục giằng co, xô xát với nhau.

Trong khi xô xát, Phạm Thanh S nhặt 01 cục bê-tông, kích thước 10x10x5cm (ở trước nhà ông Phan Tâm C), rồi ném vào vùng trán làm ông Phan Tâm C bị thương, tỷ lệ tổn thương cơ thể tại thời điểm giám định, là 30%.

Với những tình tiết nói trên, việc Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt Phạm Thanh S về tội “Cố ý gây thương tích” theo Điểm d Khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015, là có căn cứ pháp luật.

[2]Về mức hình phạt:

[2.1]Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt Phạm Thanh S 03 năm 06 tháng tù, về tội “Cố ý gây thương tích” theo Điểm d Khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Sau khi bản án có hiệu lực, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh kháng nghị, cho rằng cần phải áp dụng thêm tình tiết “Tái phạm nguy hiểm” (Điểm d Khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự) làm tình tiết định khung hình phạt và áp dụng thêm tình tiết “Phạm tội có tính chất côn đồ” (Điểm d Khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự) làm tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự trong vụ án này, để từ đó, xử phạt bị cáo với hình phạt nặng hơn.

Xét thấy, mặc dù tỷ lệ tổn thương cơ thể của người bị hại chỉ là 30%, nhưng Tòa án án cấp sơ thẩm không xét xử bị cáo Phạm Thanh S về tội “Cố ý gây thương tích” theo Khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự (mức hình phạt cao nhất là 03 năm tù), mà xét xử bị cáo theo Điểm d Khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 có khung hình phạt nặng hơn (từ 02 năm tù cho đến 06 năm tù), tức là đã áp dụng tình tiết phạm tội “Có tính chất côn đồ” (quy định tại Điểm i Khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự) khi quyết định hình phạt, bởi vì tình tiết này đã được bao hàm trong Điểm đ Khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.

Như vậy, trong vụ án này, Tòa án cấp sơ thẩm chỉ có thiếu sót là không áp dụng thêm tình tiết định khung hình phạt “Tái phạm nguy hiểm” theo Điểm d Khoản 2 của Bộ luật Hình sự khi quyết định hình phạt đối với bị cáo Phạm Thanh S, cần rút kinh nghiệm cho những lần xét xử về sau.

Xét về mức án cụ thể, Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo Phạm Thanh S hình phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. So sánh với mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, so sánh với khung hình phạt mà điều luật quy định (từ 02 năm tù cho đến 06 năm tù tùy từng trường hợp), thì mức hình phạt như vậy là phù hợp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ 370; Điều 382; Điều 387; Điều 388 và Điều 395 của Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015;

1/Không chấp nhận kháng nghị giám đốc thẩm số 209/QĐ-VC3-V1 ngày 12/09/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 87/2023/HS-ST ngày 19/09/2023 (kèm theo thông báo sửa chữa, bổ sung bản án số 84/2023/TB-TA ngày 11/10/2023) của Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.

2/Quyết định của Hội đồng giám đốc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.

Nơi nhận:

  • - Chánh án TANDCC tại Tp. HCM (để b/c);
  • - VKSNDCC tại Tp. Hồ Chí Minh;
  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - TAND huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự - Công an huyện huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương;
  • - Chi cục THADS H. Phú Giáo, T. Bình Dương;
  • - Người bị kết án, bị hại;
  • - Lưu: P.LTHS, P.GĐKT1, HS, THS.

TM. ỦY BAN THẨM PHÁN

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Thanh Tùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Quyết định số 82/2024/HS-GĐT ngày 20/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự giám đốc thẩm

  • Số quyết định: 82/2024/HS-GĐT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự Giám đốc thẩm
  • Cấp xét xử: Giám đốc thẩm
  • Ngày ban hành: 20/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng nghị giám đốc thẩm số 209/QĐ-VC3-V1 ngày 12/09/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 87/2023/HS-ST ngày 19/09/2023 (kèm theo thông báo sửa chữa, bổ sung bản án số 84/2023/TB-TA ngày 11/10/2023) của Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger