|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ N TỈNH KHÁNH HÒA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Số: 81/2024/QÐST-DS |
N, ngày 06 tháng 12 năm 2024 |
QUYẾT ĐỊNH
CÔNG NHẬN SỰ THỎA THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ
Căn cứ vào Điều 212 và Điều 213 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào biên bản hòa giải thành ngày 28 tháng 11 năm 2024, về việc các đương sự thoả thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án dân sự thụ lý số: 157/2023/TLST-DS ngày 19 tháng 6 năm 2023,
XÉT THẤY:
Các thỏa thuận của các đương sự được ghi trong biên bản hòa giải thành về việc giải quyết toàn bộ vụ án là tự nguyện; nội dung thỏa thuận giữa các đương sự không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội.
Đã hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản hòa giải thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận đó.
QUYẾT ĐỊNH:
I. Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Hồ T- sinh 1970;
Địa chỉ: Thôn C, xã N, thị xã N;
-Bị đơn: Ông Hồ T1 - sinh 1978;
Nơi cư trú: Tổ dân phố P, phường N, thị xã N, Khánh Hòa.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Hồ Thị T2- sinh 1957,
Nơi cư trú: Thôn C, xã N, thị xã N;
- Hồ Thị D – sinh 1961,
Nơi cư trú: Thôn 2, xã Ninh Sơn, thị xã Ninh Hòa
- Hồ Thị Hòa – sinh 1966, Nơi cư trú: Tổ dân phố P, Phường N, Thị xã N.
- Hồ Thi L – sinh 1971,
Nơi cư trú: Tổ dân phố P, phường N, thị xã N.
- Hồ Ngọc T3 – sinh 1986,
- Hồ Ngọc T4 – sinh 1987, Cùng nơi cư trú: Thôn C, xã N, thị xã N;
Ông Hồ Ngọc T4 ủy quyền cho ông Hồ Ngọc T3- sinh 1986,
Nơi cư trú: Thôn C, xã N, thị xã N (văn bản ủy quyền số 68, quyển số 01/2023-SCT/CK, ĐC ngày 15/8/2023 tại UBND xã N)
- Hồ Thị T5 – sinh 1990, Nơi cư trú: Ấp Ngã Chánh,xã Hiếu Nhơn, huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long
- Hồ Thị Hoa – sinh 1992, Nơi cư trú: Thôn N, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa.
Bà T5, bà H5 ủy quyền cho Hồ Ngọc T3 – sinh 1986,
Nơi cư trú: Thôn C, xã N, thị xã N (Văn bản ủy quyền số 43, quyển số 01/2023-SCT/CK-ĐC ngày 13/7/2023 tại UBND xã N).
- Nguyễn Tấn H – sinh 1988,
- Nguyễn Thị Thu H1 – sinh 1991,
- Nguyễn Trọng H2 – sinh 1992, Cùng nơi cư trú: Tổ dân phố P, phường N, thị xã N;
Ông H2, bà H1 ủy quyền cho: Nguyễn Tấn H – sinh 1988
Nơi cư trú: Tổ dân phố P, phường N, thị xã N.
(Văn bản ủy quyền số 2407 ngày 12/7/2023 tại văn phòng C)
- Nguyễn Văn H3, sinh 1964 Nơi cư trú: Tổ dân phố P, phường N, thị xã N
- Nguyễn Thị S- 1966,
Nơi cư trú: Thôn C, xã N, thị xã N, Khánh Hòa.
II. Sự thỏa thuận của các đương sự cụ thể như sau:
Giữa nguyên đơn Hồ T, bị đơn Hồ T1 và tất cả những người có quyền lợi, nghĩa cụ liên quan có mặt cũng như đại diện theo ủy quyền của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều thống nhất:
- Về người để lại di sản: Hồ Quáng- chết năm 2000 và bà Lê Thị K- chết năm 2013.
- Về người thừa kế gồm: 08 người con là Hồ T, Hồ Thị T2, Hồ Thị D, Hồ Thị H4, Hồ Thị L1, Hồ T1, Hồ Ngọc T6 và Hồ Thị R. Đối với Hồ Ngọc T6 đã chết năm 2015 có vợ là Nguyễn Thị S và 04 con là Hồ Ngọc T3, Hồ Ngọc T4, Hồ Thị T5 và Hồ Thị H5; còn Hồ Thị R chết năm 2022 có chồng là Nguyễn Văn H3 và 03 con chung là Nguyễn Tấn H, Nguyễn Thị Thu H1 và Nguyễn Trọng H2. Ngoài ra, ông Q, bà K không có con chung hay con nuôi nào khác.
- Về tài sản chung của hộ gia đình và di sản ông Hồ Q, bà Lê Thị K để lại gồm: 02 thửa đất lúa là thửa đất số 9 và 28 cùng tờ bản đồ số 10 N đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 00491 quyền sử dụng đất ngày 12/12/1997 cùng thửa đất số 925 tờ bản đồ số 8 N có diện tích 773 m² trong đó có 150 m² đất ở và 623m² đất trồng cây lâu năm đã được UBND huyện N (nay là thị xã N) cấp Giấy chứng nhận cho hộ bà Lê Thị K ngày 13/11/2006, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H02021. Ngôi nhà được chứng nhận trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã bị cơn bão năm 2017 sập hỏng không còn nữa.
- Thống nhất kết quả đo đạc hiện trạng theo Mảnh trích đo số 39/2024 cụ thể: Thửa đất số 9 tờ bản đồ số 10 N theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có diện tích 1120m² nhưng theo kết quả đo đạc hiện trạng thể hiện thì thửa đất số 9 tờ bản đồ số 10 N có diện tích là 1350 m², tăng 230 m² so với giấy chứng nhận do trước đây đo đạc và tính diện tích không chính xác; Đối với thửa đất số 28 tờ bản đồ số 10 N theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có diện tích 460 m² nhưng theo kết quả đo đạc theo hiện trạng thể hiện trên Mảnh trích đo số 39/2024 thì thửa đất số 28 tờ bản đồ số 10 N có diện tích là 450,6 m², giảm 9,1 m² so với giấy chứng nhận do trước đây đo đạc và tính diện tích không chính xác.
+ Đối với thửa đất số 925 tờ bản đồ số 8 N theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có diện tích 773 m², trong đó có 150 m² đất ở và 623m² đất trồng cây lâu năm đã được UBND huyện N (nay là thị xã N) cấp Giấy chứng nhận cho hộ bà Lê Thị K ngày 13/11/2006, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H02021 nhưng theo Mảnh trích đo số 134/2023 thì tổng diện tích đo đạc theo hiện trạng là 837,2 m², tăng 64,2 m² so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp. Phần diện tích đo đạc theo hiện trạng được người giáp ranh liên kề thống nhất ký giáp ranh theo hiện trạng. Trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có tài sản gắn liền với đất có căn nhà cấp 4 với diện tích xây dựng 56 m² nhưng căn nhà này do xây dựng đã lâu nên đã bị cơn bão năm 2017 làm sập, do đó không còn nữa nên khi Tòa án xem xét thẩm định tại chỗ không có căn nhà.
- Thống nhất chia tài sản chung hộ gia đình và di sản thừa kế như sau:
- Chia 02 thửa đất lúa là thửa đất số 9 và thửa đất số 28 cùng tờ bản đồ số 10 N đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 00491 quyền sử dụng đất ngày 12/12/1997, cho Hồ T1 toàn quyền sử dụng và định đoạt. (có Mảnh trích đo số 39/2024 kèm theo). 02 thửa đất trồng lúa chia cho T1 có trị giá là 121.000.320đ (Một trăm hai mươi mốt triệu không trăm nghìn ba trăm hai mươi đồng).
- Chia cho Hồ T1 được toàn quyền sử dụng và định đoạt phần đất có ký hiệu là 925-1 theo Mảnh trích đo địa chính số 123/2024 với diện tích 224,4 m² trong đó có 60 m² đất ở và 164,4 m² là đất trồng cây lâu năm (kèm theo Mảnh trích đo số 123/2024, và số 134/2023).
- Chia cho nguyên đơn Hồ T và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Hồ Thị T2, Hồ Thị D, Hồ Thị H4, Hồ Thị L1, Hồ Ngọc T6 và Hồ Thị R đồng sở hữu phần đất còn lại của thửa đất 925 tờ bản đồ số 8 N, ký hiệu 925-2 có diện tích là 612,8 m² thể hiện trên Mảnh trích đo địa chính số 123/2024, trong đó có 90 m² đất ở và 522,8 m² đất trồng cây lâu năm. Nhưng do Hồ Ngọc T6 và Hồ Thị R đã chết nên vợ của Hồ Ngọc T6 là Nguyễn Thị S và 04 con là Hồ Ngọc T3, Hồ Ngọc T4, Hồ Thị T5 và Hồ Thị H5 đồng sở hữu kỷ phần của Hồ Ngọc T6. Kỷ phần thừa kế của Hồ Thị R do chồng và con của Hồ Thị R là Nguyễn Văn H3 và Nguyễn Tấn H, Nguyễn Thị Thu H1 và Nguyễn Trọng H2 đồng sở hữu. (Kèm theo Mảnh trích đo số 123/2024 và số 134/2023).
- Nguyên đơn Hồ T và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Hồ Thị T2, Hồ Thị D, Hồ Thị H4, Hồ Thị L1, Nguyễn Thị S, Hồ Ngọc T3, Nguyễn Tấn H, Nguyễn Văn H3; đại diện theo ủy quyền của Hồ Ngọc T4, Hồ Thị T5, Hồ Thị H5; đại diện theo ủy quyền của và Nguyễn Nguyễn Thị Thu H1 và Nguyễn Trọng H2 thống nhất giao cho ông Hồ Trung đại D1 đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất ký hiệu 925-2 có diện tích là 612,8 m² thể hiện trên Mảnh trích đo địa chính số 123/2024, trong đó có 90 m² đất ở và 522,8 m² đất trồng cây lâu năm và liên hệ với cơ quan chức năng có thẩm quyền tiến hành các thủ tục theo qui định đối với phần đất mà nguyên đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được nhận thừa kế.
- Tổng giá trị tài sản mà Hồ T1 được nhận là 156.105.600đ (Một trăm năm mươi sau triệu một trăm lẻ năm ngàn sáu trăm đồng), trong đó:
Đất ở nông thôn là: 60 m² x 374.400đ/m² = 22.464.000đ và
Đất trồng cây lâu năm: 164,6 m² x 76.800đ/m² = 12.641.280₫
Cùng với 02 thửa đất trồng lúa: 1.800,6 m² x 67.200đ/m² = 121.000.320₫
- Tổng giá trị tài sản mà ông Hồ T và những người liên quan được nhận là 73.847.040đ (bảy mươi ba triệu, tám trăm bốn mươi bảy ngàn không trăm bốn mươi đồng). Trong đó:
Đất ở nông thôn là: 90 m² x 374.400đ/m² = 33.696.000₫
Và Đất trồng cây lâu năm: 522,8 m² x 76.800đ/m² = 40.151.040₫
- Về tiền hổ trợ cho Hồ T1 là 200.000.000₫ (Hai trăm triệu đồng) thì thống nhất giao cho Hồ T1 vào ngày 28/5/2025, trong đó:
- Bà Hồ Thị H4 hổ trợ số tiền 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng);
- Ông Nguyễn Văn H3, Nguyễn Tấn H, Nguyễn Thị Thu H1 và Nguyễn Trọng Hoàng H6 trợ số tiền 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng);
- Ông Hồ T, bà Hồ Thị T2, bà Hồ Thị D mỗi người hổ trợ cho Hồ Trị số tiền 25.000.000₫ (Hai mươi lăm triệu đồng);
- Hồ Ngọc T3, Hồ Ngọc T4, Hồ Thị T5 và Hồ Thị H5, Nguyễn Thị S hổ trợ cho Hồ Trị số tiền 25.000.000đ (Hai mươi lăm triệu đồng);
Tổng cộng tiền hổ trợ và giá trị tài sản mà Hồ T1 được nhận là 356.105.600₫ (Ba trăm năm mươi sau triệu một trăm lẻ năm ngàn sáu trăm đồng).
- Về tiền thanh toán thỏa thuận đối với 02 thửa đất 9 và thửa đất số 28 cùng tờ bản đồ số 10 N hôm nay ông Hồ T đã giao đủ 70.000.000đ (Bảy mươi triệu đồng) cho bà Hồ Thị L1 nhận. Ông Hồ T1 có trách nhiệm thanh toán lại 40.000.000đ (bốn mươi triệu đồng) cho ông Hồ T vào ngày 28/5/2025, bà Hồ Thị D thanh toán cho ông Hồ Trung 1 (Mười lăm triệu đồng) và bà Hồ Thị H4 thanh toán cho ông Hồ Trung 1 (Mười lăm triệu đồng) cùng vào ngày 28/5/2025.
- Về chi phí liên quan đến việc tách thửa và cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất số 925 tờ bản đồ số 8 N theo qui định đối với phần đất ký hiệu 925-1 thuộc Mảnh trích đo địa chính số 123/2024, do Hồ Trị chịu. Còn chi phí đối với phần đất ký hiệu 925-2 thuộc Mảnh trích đo địa chính số 123/2024 do phía nguyên đơn Hồ T và tất cả những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cùng chịu.
Về chi phí cấp đổi đối với 02 thửa đất lúa số 9 và thửa đất số 28 cùng tờ bản đồ số 10 N do Hồ Trị chịu toàn bộ.
- Nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cũng như đại diện theo ủy quyền của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đồng ý với các biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 15/8/2023 và 11/7/2024; biên bản định giá ngày 28/12/2023 và ngày 25/7/2024; Mảnh trích đo số 123/2024, 39/2024 và số 134/2023.
- Về chi phí tố tụng đã nộp cho việc xem xét thẩm định tại chỗ, định giá và hợp đồng đo đạc, lấy mảnh trích đo thì nguyên đơn và bị đơn không yêu cầu các đương sự khác trong vụ án phải thanh toán lại.
- Về án phí DS-ST: Bà Hồ Thị T2, Hồ Thị D là người cao tuổi được miễn nộp tiền tạm ứng án phí, án phí theo điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14 của Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH1430 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Hồ Thị H4 phải nộp 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng).
- Hồ Ngọc T3, Hồ Ngọc T4, Hồ Thị T5 và Hồ Thị H5 và Nguyễn Thị S cùng phải chịu nộp chung 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) nhưng Hồ Ngọc T3 tự nguyện nộp luôn cho Hồ Ngọc T4, Hồ Thị T5 và Hồ Thị H5 và Nguyễn Thị S. Do đó, Hồ Ngọc T3 phải nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng).
- Nguyễn Văn H3, Nguyễn Tấn H, Nguyễn Thị Thu H1 và Nguyễn Trọng H2 cùng phải chịu nộp chung 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) nhưng Nguyễn Tấn H tự nguyện nộp luôn cho Nguyễn Văn H3, Nguyễn Thị Thu H1 và Nguyễn Trọng H2. Do đó, Nguyễn Tấn H phải nộp 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng).
- Bà Hồ Thị L1 phải nộp 2.050.000₫ (Hai triệu không trăm năm mươi ngàn đồng) nhưng Hồ Ngọc T3 tự nguyện nộp thay bà Hồ Thị L1 số tiền 1.750.000đ (Một triệu bảy trăm năm mươi ngàn đồng) nên bà Hồ Thị L1 chỉ còn nộp 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng). Tổng cộng Hồ Ngọc T3 phải nộp 2.050.000₫ (Hai triệu không trăm năm mươi ngàn đồng).
- Hồ T phải nộp 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng), Hồ T1 phải nộp án phí 8.902.640đ (Tám triệu chín trăm lẻ hai ngàn sáu trăm bốn mươi đồng) nhưng ông Hồ T tự nguyện nộp thay án phí cho Hồ T1. Tổng cộng ông T phải nộp 9.202.640₫ (Chín triệu hai trăm lẻ hai ngàn sáu trăm bốn mươi đồng) nhưng được trừ vào 1.875.000đ (một triệu tám trăm bảy mươi lăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí biên lai thu số AA/2022/0001107 ngày 13/6/2023 và biên lai số 0006006 ngày 01/7/2024) mà ông Hồ T đã nộp tại Chi cục thi hành án thị xã Ninh Hòa. Ông Hồ T còn phải nộp 7.327.640đ (Bảy triệu ba trăm hai mươi bảy ngàn sáu trăm bốn mươi đồng).
Quy định: Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 Bộ luật Dân sự 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án.
III. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
IV. Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
THẨM PHÁN Nguyễn Thị Nhất Anh |
Quyết định số 81/2024/QÐST-DS ngày 06/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ N TỈNH KHÁNH HÒA về công nhận sự thỏa thuận của các đương sự (vụ án dân sự)
- Số quyết định: 81/2024/QÐST-DS
- Quan hệ pháp luật: Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự (Vụ án dân sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/12/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ N TỈNH KHÁNH HÒA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 14 người con của ông Hồ Qu và bà Lê Thị K thỏa thuận thống nhất chia di sản thừa kế
