Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Số: 803/2024/QĐ-TA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Thành phố Thủ Đức, ngày 12 tháng 11 năm 2024

QUYẾT ĐỊNH

ÁP DỤNG BIỆN PHÁP XỬ LÝ HÀNH CHÍNH

ĐƯA VÀO CƠ SỞ CAI NGHIỆN BẮT BUỘC

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần phiên họp gồm:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Trần Xuân Dũng

Thư ký ghi biên bản phiên họp: Ông Nguyễn Thành Quang – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

Ngày 12 tháng 11 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên họp trực tuyến công khai giải quyết hồ sơ thụ lý số: 790/2024/XLST ngày 01/11/2024 về việc “Áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” theo Quyết định mở phiên họp số: 673/2024/QĐ-TA ngày 06/11/2024, đối với:

Họ và tên: Tăng Quốc B; sinh năm 1997 tại Cà Mau; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Lao động tư do; Địa chỉ đăng ký thường trú: ấp A, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau; Nơi cư trú: Không nơi cư trú ổn định; Con ông Tăng Văn B1 (chết) và bà Phan Việt N; Tiền án; Tiền sự: Không, bắt ngày 14/8/2024 (có mặt).

Có sự tham gia của:

  1. Đại diện cơ quan đề nghị Trưởng phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh: Ông Nguyễn Đoàn Nhị S - Chức vụ: Chuyên viên.
  2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp: Ông Hoàng Hải – Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Vào ngày 14/8/2024, Công an phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh lập biên bản vi phạm hành chính đối với ông Tăng Quốc B vì có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và tiến hành xác minh nơi cư trú của ông B. Kết quả xác minh nơi cư trú thể hiện ông B không có nơi cư trú ổn định.

Tại Phiếu trả lời kết quả về việc xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 14/8/2024 của Trạm y tế phường L, thành phố T kết luận ông Tăng Quốc B nghiện ma túy loại Methamphetamine.

Tại bản tường trình ngày 14/8/2024 Tăng Quốc B thừa nhận có sử dụng ma túy và không đăng ký đi cai nghiện tự nguyện.

Ngày 14/8/2024, Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường L, thành phố T ban hành Quyết định số 552/QĐ-QLNN về việc quản lý người nghiện ma túy trong thời gian làm thủ tục đề nghị áp dụng biện pháp đưa người vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Tăng Quốc B và Thông báo cho ông B biết về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Ngày 23/10/2024 Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường L, thành phố T có văn bản số 552/ĐN-CNBB gửi Trưởng phòng Lao động – Thương binh và Xã hội, thành phố T xem xét hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông B.

Ngày 30/10/2024, Phòng Lao động Thương binh Xã hội Thành phố T đã có văn bản số 794/ĐN - CNBB gửi Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức về việc Đề nghị xem xét, áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông B tại Cơ sở cai nghiện ma túy P; thời gian cai nghiện 15 đến 24 tháng.

Tại phiên họp:

  • - Đại diện Phòng Lao động Thương binh Xã hội thành phố T giữ nguyên ý kiến, đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông B trong thời hạn từ 15 đến 24 tháng vì có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, không có nơi cư trú ổn định.
  • - Người bị đề nghị ông B đồng ý đi cai nghiện theo lời đề nghị của Phòng Lao động Thương binh Xã hội thành phố T.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên họp phát biểu ý kiến: Từ khi thụ lý hồ sơ đến phiên họp hôm nay, Thẩm phán, Thư ký Tòa án và những người tham gia phiên họp đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân. Đề nghị Tòa án chấp thuận đề nghị của Trưởng phòng Lao động Thương binh Xã hội thành phố T về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông B.

XÉT THẤY:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ việc đã được thẩm tra tại phiên họp; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của đại diện cơ quan đề nghị, Kiểm sát viên, Thẩm phán nhận định:

  1. Về thời hiệu: Ông B có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và bị Công an phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh lập biên bản vi phạm hành chính vào ngày 14/8/2024. Ngày 12/11/2024, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức mở phiên họp xem xét đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông B là còn trong thời hiệu được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (được sửa đổi, bổ sung năm 2020).
  2. Về thẩm quyền xem xét, áp dụng biện pháp xử lý hành chính: Cơ quan đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông B là Phòng Lao động Thương binh Xã hội thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh có trụ sở tại thành phố T nên Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức có thẩm quyền xem xét giải quyết theo quy định tại Điều 3 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014.
  3. Về tính pháp lý của hồ sơ đề nghị: Việc xác minh, thu thập tài liệu và lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông B đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thời hạn theo quy định tại Điều 103, Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (được sửa đổi, bổ sung năm 2020); Điều 40, Điều 41, Điều 42, Điều 43 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy, Luật Xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, đủ cơ sở pháp lý kết luận: Ông B là người đủ 18 tuổi, có năng lực trách nhiệm hành chính, đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, nghiện ma túy, không có nơi cư trú ổn định và không thực hiện việc đăng ký cai nghiện tự nguyện nên thuộc đối tượng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại Điều 95, Điều 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020); Điều 27, Điều 32 Luật Phòng chống ma túy năm 2021. Vì vậy, Phòng Lao động Thương binh Xã hội thành phố T đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông B là có căn cứ pháp luật, nên chấp nhận.

Xét thấy hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của ông B đã vi phạm các quy định về quản lý trật tự, an toàn xã hội, việc nghiện ma túy không những ảnh hưởng tới sức khỏe, gây thiệt hại về vật chất, tinh thần của bản thân mà còn là nguyên nhân của nhiều tội phạm và tệ nạn xã hội khác. Do đó, cần xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong một thời gian thích hợp nhằm tạo điều kiện cho ông B được cai nghiện, chữa bệnh, học tập và tái hòa nhập cộng đồng trở thành người có ích cho gia đình và xã hội. Quá trình lập hồ sơ xử lý hành chính, ông B đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi, tích cực điều trị bệnh, đây được xem là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020), do đó cần xem xét giảm một phần thời gian áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc cho ông B theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 3, Điều 9, Điều 95, Điều 96, Điều 103, Điều 104, Điều 105, Điều 106 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020);

Căn cứ Điều 27; Điều 32 Luật Phòng chống ma túy năm 2021;

Căn cứ khoản 2 Điều 9; khoản 2 Điều 19; khoản 2 Điều 20; Điều 22; Điều 23; Điều 30; Điều 31; Điều 32 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

Căn cứ Điều 40, Điều 41, Điều 42, Điều 43 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy, luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy,

  1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Tăng Quốc B.
  2. Cơ sở chấp hành thời gian cai nghiện bắt buộc: Cơ sở Cai nghiện ma túy P;

  3. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (mười tám) tháng, kể từ ngày 14 tháng 8 năm 2024
  4. Trong thời gian chấp hành cai nghiện, trường hợp có thay đổi cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm thông báo cho cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan biết.

  5. Ông Tăng Quốc B có quyền khiếu nại quyết định này, Trưởng phòng Lao động Thương binh Xã hội thành phố T có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.
  6. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
  7. Cơ quan thi hành quyết định: Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh; Công an thành phố T và Cơ sở Cai nghiện ma túy P có trách nhiệm thi hành quyết định này.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân TP. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND TP. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND, Công an tp. Thủ Đức, TP. Hồ Chí Minh;
  • - Phòng LĐ-TB-XH tp. Thủ Đức, TP.HCM;
  • - Ông Tăng Quốc Bảo;
  • - Cơ sở cai nghiện ma túy Thanh Thiếu Niên 2;
  • - Cơ sở Cai nghiện ma túy Phú Đức;
  • - UBND, Công an P. Long Thạnh Mỹ, tp. Thủ Đức;
  • - Lưu: VP, Hồ sơ.

THẨM PHÁN

Trần Xuân Dũng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Quyết định số 803/2024/QĐ-TA ngày 12/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

  • Số quyết định: 803/2024/QĐ-TA
  • Quan hệ pháp luật: Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/11/2024
  • Loại vụ/việc: Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: áp dụng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger