Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số:80/2024/QÐST- HNGĐ

Hải Dương, ngày 16 tháng 9 năm 2024

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn và thỏa thuận nuôi con khi ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền

Thư ký phiên họp: Bà Lê Thị Thúy Hà – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương: Bà Phan Thị Thu Huyền– Kiểm sát viên, tham gia phiên họp.

Ngày 16 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 417/2024/TLST-HNGĐ ngày 07/8/2024 về “Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con” theo Quyết định mở phiên họp số 457/2024/QĐMPH-HNGĐ ngày 27/8/2024, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

  • * Người yêu cầu:
  • 1. Chị Vũ Thị A, sinh ngày 22/12/1983.
  • Địa chỉ: Khu A, phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương.
  • 2. Anh Trần Văn T, sinh ngày 01/7/1981.
  • Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Khu A, phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương. Hiện đang sinh sống: Đài Loan.
  • (Chị A, anh T có quan điểm đề nghị được giải quyết vắng mặt)

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

- Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai, đơn đề nghị giải quyết vắng mặt của chị Vũ Thị A và anh Trần Văn T cùng các tài liệu có trong hồ sơ thể hiện :

Về quan hệ vợ chồng: Chị Vũ Thị A và Trần Văn T tự do tìm hiểu có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương ngày 19/01/2001. Khi kết hôn anh T chưa đủ tuổi 20, chị A chưa đủ 18 tuổi nên anh T đã khai sinh năm 1980, chị A khai sinh năm 1982. Thực chất các giấy tờ tùy thân của anh T đều thể hiện anh T sinh ngày 01/7/1981 và chị An sinh ngày 22/12/1983. Sau ngày cưới vợ chồng sống hòa thuận, hạnh phúc. Năm 2013 anh T sang Đài Loan lao động, từ khi đi anh T nhiều lần về Việt Nam, lần gần đây nhất anh T về Việt Nam vào tháng 7/2024. Do sống xa nhau lâu ngày nên vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, không tìm được tiếng nói chung. Nay chị A và anh T đều xác định tình cảm vợ chồng không còn, cùng đề nghị Tòa án công nhận thuận tình ly hôn cho anh chị.

Về quan hệ con chung: Chị Vũ Thị A và anh Trần Văn T có hai con 2 con chung là Trần Văn Ngọc C, sinh ngày 25/01/2002 và Trần Văn Vũ L, sinh ngày 25/5/2008. Hiện nay cháu C đã trưởng thành, ly hôn anh chị không đề nghị Tòa án giải quyết. Cháu L đang sinh sống cùng chị, ly hôn anh chị thỏa thuận chị A nuôi cháu L và tự nguyện không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng tiền nuôi con.

Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Chị Vũ Thị A và anh Trần Văn T tự thỏa thuận, ly hôn không đề nghị Tòa án giải quyết.

Về lệ phí: Chị Vũ Thị A tự nguyện chịu toàn bộ lệ phí giải quyết việc dân sự.

Do anh T đang lao động tại Đài Loan, nên anh ủy quyền cho em trai là Trần Văn L1 giao và nhận văn bản tại Tòa án. Anh L1 đồng ý nhận ủy quyền của anh T và đã thông tin cho anh T biết, anh T vẫn giữ nguyên quan điểm như đã trình bày. Anh T, chị A đều có quan điểm đề nghị giải quyết vắng mặt.

- Cháu Trần Văn Vũ L là con chung của anh T, chị A có nguyện vọng, khi bố mẹ ly hôn cháu mong muốn được ở với mẹ.

- Theo biên bản xác minh tại Ủy ban nhân dân xã T, biên bản lấy lời khai của ông Trần Văn H là bố đẻ anh T và bà Nguyễn Thị N là mẹ đẻ chị A thể hiện: Anh Trần Văn T sinh ngày 01/7/1981 theo CCCD với Trần Văn T ghi sinh năm 1980 theo Giấy chứng nhận kết hôn cùng là một người. Chị Vũ Thị An s ngày 22/12/1983 theo CCCD với Vũ Thị An sinh năm 1982 theo Giấy chứng nhận kết hôn cùng là một người.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương phát biểu quan điểm: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, thư ký và các đương sự đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về đường lối giải quyết vụ việc: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ cho thấy mâu thuẫn giữa chị Vũ Thị A và anh Trần Văn T đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn của chị A và anh T. Về con chung: Giao cháu Trần Văn Vũ L, sinh ngày 25/5/2008 cho chị Vũ Thị A chăm sóc, nuôi dưỡng. Chấp nhận sự tự nguyện của chị Vũ Thị A không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng tiền nuôi con. Về lệ phí, chấp nhận sự tự nguyện của chị An chịu toàn bộ lệ phí giải quyết việc dân sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tại phiên họp, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương nhận định:

[1].Về tố tụng: Chị Vũ Thị A và anh Trần Văn T đều có hộ khẩu thường trú tại: Khu A, phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương. Hiện anh T đang lao động tại Đài Loan, do vậy vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.

Tài liệu anh T giao nộp tại Tòa án gồm: Đơn xin ly hôn, bản tự khai, giấy ủy quyền, đơn đề nghị giải quyết vắng mặt có xác nhận của Ủy ban nhân dân phường T ngày 18/7/2024. Do vậy, có cơ sở xác định nội dung các văn bản anh T nộp tại Tòa án là đúng ý chí, nguyện vọng của anh T.

Chị A, anh T đều có quan điểm đề nghị giải quyết vắng mặt, nên căn cứ Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án quyết định mở phiên họp vắng mặt các đương sự.

[2]. Về nội dung:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Thị A và anh Trần Văn T được tự do tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương ngày 19/01/2001. Khi đăng ký kết hôn anh T đã bước sang tuổi 20 (19 tuổi 5 tháng 5 ngày), chị A đã bước sang tuổi 18 (17 tuổi 10 tháng 3 ngày). Theo Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 thì nam từ hai mươi tuổi trở lên, nữ từ 18 tuổi trở lên đã đủ điều kiện về độ tuổi kết hôn. Như vậy tính đến thời điểm kết hôn thì anh T và chị A đã đủ tuổi kết hôn. Do vậy Hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Sau ngày cưới chị A, anh T sống hòa thuận, hạnh phúc. Năm 2013 anh T sang Đài Loan lao động, thời gian đầu chị A, anh T thường xuyên liên lạc, tuy nhiên do vợ chồng có thời gian dài sống xa nhau dẫn đến bất đồng quan điểm, không tìm thấy tiếng nói chung. Nay anh T, chị A đều xác định tình cảm vợ chồng không còn và cùng có đơn đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương công nhận thuận tình ly hôn. Xét thấy mâu thuẫn của anh chị đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh chị.

- Về con chung: Chị Vũ Thị A và anh Trần Văn T có hai con chung là Trần Văn Ngọc C, sinh ngày 25/01/2002 và Trần Văn Vũ L, sinh ngày 25/5/2008. Hiện nay cháu C đã trưởng thành nên Tòa án không xem xét giải quyết. Cháu L hiện đang sống cùng mẹ, ly hôn các bên thỏa thuận chị A nuôi cháu L. Cháu L cũng có quan điểm được ở với mẹ. Xét thấy, việc thỏa thuận của các bên đương sự hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với điều kiện thực tế của các bên. Do đó cần chấp nhận sự thỏa thuận của anh T và chị A, giao cháu L cho chị A chăm sóc, nuôi dưỡng. Chấp nhận sự tự nguyện của chị A không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

- Về tài sản chung, nợ chung: Chị Vũ Thị A và anh Trần Văn T tự thỏa thuận, không đề nghị giải quyết nên Tòa án không xem xét.

[3]. Về lệ phí: Chấp nhận sự tự nguyện của chị Vũ Thị An c toàn bộ lệ phí giải quyết việc dân sự.

Vì những lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 55, Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Khoản 2 Điều 29, điểm b khoản 1 Điều 37, Điều 149 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Vũ Thị A và anh Trần Văn T.
  2. Về con chung: Công nhận sự thỏa thuận của chị Vũ Thị A và anh Trần Văn T, giao cháu Trần Văn Vũ L, sinh ngày 25/5/2008 cho chị A nuôi dưỡng cho đến khi con tròn 18 tuổi. Chấp nhận sự tự nguyện của chị A không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng tiền nuôi con.
  3. Anh Trần Văn T được quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở.
  4. Về lệ phí: Chị Vũ Thị A tự nguyện chịu cả 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) lệ phí giải quyết việc dân sự, được đối trừ số tiền tạm ứng lệ phí 300.000đ theo biên lai thu số 0005066 ngày 07 tháng 8 năm 2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương. Chị A đã nộp đủ lệ phí.
  5. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Hải Dương;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã Thanh Sơn;
  • - Cục THADS tỉnh Hải Dương;
  • - Lưu hồ sơ.

Thẩm phán – Chủ tọa phiên họp

Nguyễn Thị Thu Hiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Quyết định số 80/2024/QÐST- HNGĐ ngày 16/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn và thỏa thuận nuôi con khi ly hôn

  • Số quyết định: 80/2024/QÐST- HNGĐ
  • Quan hệ pháp luật: Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn và thỏa thuận nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger