Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HOÀI ÂN

TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 79/2024/HNGĐ-ST

Ngày 03-5-2024

V/v "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ÂN, TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Nam.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Quý Hoà;

Ông Nguyễn Thành Trường.

- Thư ký phiên tòa: Bà Vi Thị Mơ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 03/5/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 53/2024/TLST-HNGĐ ngày 19/3/2024, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 03/4/2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 20/2024/QĐST-HNGĐ ngày 16/4/2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Võ Thị N, sinh năm 1997;

Địa chỉ: Thôn K, xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Ông Võ Thanh Đ, sinh năm 1986;

Địa chỉ: Thôn K, xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ghi ngày 18/3/2024 và các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn bà Võ Thị N trình bày:

Về hôn nhân: Bà và ông Võ Thanh Đ kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định vào ngày 21/9/2017, có tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán địa phương. Sau khi kết hôn, vợ chồng sinh sống tại nhà bố mẹ chồng ở thôn K, xã Â, huyện H. Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc, có với nhau 02 con chung tên Võ Thị Kim T, sinh ngày 07/3/2018 và Võ Nam T1, sinh ngày 18/01/2020, hiện nay 02 con đang ở bên phía nhà chồng. Bà làm nghề nông, thu nhập bình quân 4.000.000 đồng/tháng. Đến đầu năm 2023 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, tính cách không hợp, ông Đ thường xuyên ăn nhậu, cờ bạc, vay mượn, nợ chồng chất, thường xuyên chửi bới, đánh đập bà. Bà về nhà mẹ đẻ sinh sống từ đầu năm 2023 đến nay, vợ chồng vẫn thường xuyên liên lạc với nhau nhưng tâm lý bà lo sợ sẽ bị ông Đ đánh đập nên bà không dám gặp ông Đ. Nay nhận thấy mục đích hôn nhân không đạt được, cho dù kéo dài cũng không hạnh phúc nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Võ Thanh Đ.

Về con chung: Bà yêu cầu nuôi con chung tên Võ Nam T1, sinh ngày 18/01/2020; không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Giao con chung tên Võ Thị Kim T, sinh ngày 07/3/2018 cho ông Đ tiếp tục nuôi dưỡng, bà không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà và ông Võ Thanh Đ không có tài sản chung, nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 26/3/2024 và các lời khai tiếp theo tại Tòa án, bị đơn ông Võ Thanh Đ trình bày:

Về hôn nhân: Ông và bà N kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định vào ngày 21/9/2017, có tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán địa phương. Sau khi kết hôn, vợ chồng sinh sống tại thôn K, xã Â, huyện H. Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc, có với nhau 02 con chung. Ông làm nghề nông, thu nhập bình quân 10.000.000 đồng/tháng. Đến năm 2023 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Ông đi làm ở thị xã H, tỉnh Bình Định, còn bà N ở nhà chăm con. Trong thời gian ông đi làm, bà N ở nhà nhắn tin với người đàn ông khác, ông cũng khuyên nhủ nhưng bà N không nghe và bỏ nhà đi đến nay. 02 đứa con do mẹ ông chăm sóc. Ông có gọi cho bà N nhiều lần nhưng bà N không nghe máy và cũng không gọi lại cho ông. Nay bà N yêu cầu ly hôn thì ông không đồng ý, ông còn yêu thương bà N và mong muốn gia đình vợ chồng đầy đủ để lo cho 02 con.

Về con chung: Nếu bà N vẫn nhất quyết ly hôn thì ông yêu cầu nuôi 02 con chung tên Võ Nam T1, sinh ngày 18/01/2020 và Võ Thị Kim T, sinh ngày 07/3/2018; ông không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Ông và bà Võ Thị N không có tài sản chung, nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát huyện H, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: trong giai đoạn thụ lý hồ sơ, chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa hôm nay Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.

Về hôn nhân: Xét thấy, tình cảm vợ chồng bà Võ Thị N và ông Võ Thanh Đ không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, cho bà Võ Thị N được ly hôn ông Võ Thanh Đ.

Về con chung: Đề nghị giao con tên Võ Nam T1, sinh ngày 18/01/2020 cho bà Võ Thị N tiếp tục nuôi dưỡng; giao con tên Võ Thị Kim T, sinh ngày 07/3/2018 cho ông Võ Thanh Đ tiếp tục nuôi dưỡng. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau

Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn bà Võ Thị N có đơn yêu cầu ly hôn ông Võ Thanh Đ. Đây là vụ án hôn nhân và gia đình về việc ly hôn được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn ông Võ Thanh Đ có đăng ký thường trú tại xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hoài Ân.

[2] Xét đơn đề nghị Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt của bà Võ Thị N. Căn cứ vào Điều 227; Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà N.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Bà Võ Thị N và ông Võ Thanh Đ kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu, sau đó đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định vào ngày 21/9/2017 nên hôn nhân của vợ chồng ông bà là hợp pháp. Thời gian đầu sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc. Theo bà Võ Thị N trình bày: đầu năm 2023 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, tính cách không hợp, ông Đ thường xuyên ăn nhậu, cờ bạc, vay mượn, nợ chồng chất, thường xuyên chửi bới, đánh đập bà. Bà về nhà mẹ đẻ sinh sống từ đầu năm 2023 đến nay, vợ chồng vẫn thường xuyên liên lạc với nhau nhưng tâm lý bà lo sợ sẽ bị ông Đ đánh đập nên bà không dám gặp ông Đ.

Đối với bị đơn ông Võ Thanh Đ: Về quá trình tìm hiểu, kết hôn, chung sống, nuôi con chung thống nhất như bà N trình bày. Tuy nhiên, mâu thuẫn vợ chồng thì ông không thống nhất. Vợ chồng phát sinh mâu thuẫn từ năm 2023. Nguyên nhân là trong thời gian ông đi làm, bà N ở nhà có nhắn tin với người đàn ông khác. Ông cũng có khuyên nhủ nhưng bà N không nghe và bỏ nhà đi từ đó đến nay. Ông có tìm cách liên lạc với bà N nhiều lần nhưng không được. Nay bà N yêu cầu ly hôn thì ông không đồng ý, do ông còn yêu thương bà N và mong muốn gia đình vợ chồng đầy đủ để lo cho 02 con.

Xét thấy, tình cảm vợ chồng bà Võ Thị N và ông Võ Thanh Đ mâu thuẫn đã đến mức trầm trọng, cho dù có kéo dài cuộc sống vợ chồng cũng không hạnh phúc và thực tế họ không còn sống chung với nhau, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn là phù hợp với quy định tại các Điều 51 và 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.

[4] Về con chung: Bà Võ Thị N và ông Võ Thanh Đ có 02 con chung tên Võ Nam T1, sinh ngày 18/01/2020 và Võ Thị Kim T, sinh ngày 07/3/2018. Tại tòa, bà H yêu cầu được tiếp tục nuôi cháu T1; còn ông Đ yêu cầu được nuôi cả 02 con. Xét thấy, để ổn định và thuận tiện cho việc sinh hoạt, chăm sóc, nuôi dưỡng các con được tốt nhất cần giao con Võ Nam T1 cho bà N tiếp tục nuôi dưỡng; giao con Võ Thị Kim T cho ông Đ tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp.

[5] Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Võ Thị N và ông Võ Thanh Đ không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về tài sản chung, nợ chung: Bà Võ Thị N và ông Võ Thanh Đ không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Ân là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[8] Về án phí: Bà Võ Thị N phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 266; khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các Điều 51; 56; 81; 82; 83; 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án

Tuyên xử:

  1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn;

    Bà Võ Thị N được ly hôn ông Võ Thanh Đ.

  2. Về con chung: Giao con chung tên Võ Nam T1, sinh ngày 18/01/2020 cho bà Võ Thị N tiếp tục nuôi dưỡng; giao con tên Võ Thị Kim T, sinh ngày 07/3/2018 cho ông Võ Thanh Đ tiếp tục nuôi dưỡng. Hai bên được quyền đi lại, thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được ngăn cản.

    Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con làm đúng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

    Vì lợi ích của con, các bên: Người thân thích của con; Cơ quan quản lý Nhà nước về gia đình; Cơ quan quản lý Nhà nước về trẻ em; Hội liên hiệp phụ nữ có quyền yêu cầu Tòa án ra quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.

  3. Về cấp dưỡng nuôi con: Không xem xét.
  4. Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét.
  5. Về án phí: Án phí ly hôn sơ thẩm, bà Võ Thị N phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (bà Lưu Thị H1 nộp thay), theo Biên lai thu số 0004629, ngày 19/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hoài Ân.
  6. Quyền kháng cáo: Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận bản án hoặc kể từ ngày được niêm yết bản án theo quy định, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Định;
  • - VKSND huyện Hoài Ân + Tỉnh;
  • - Các bên đương sự,
  • - CC THADS huyện Hoài Ân;
  • - UBND xã Ân Nghĩa;
  • - Lưu HSVA, VPTA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Việt Nam

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

THÔNG TIN BẢN ÁN

Quyết định số 79/2024/HNGĐ-ST ngày 03/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ÂN, TỈNH BÌNH ĐỊNH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số quyết định: 79/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ÂN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: - Nguyên đơn: Bà Võ Thị Nguyện, sinh năm 1997; Địa chỉ: Thôn Kim Sơn, xã Ân Nghĩa, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định. - Bị đơn: Ông Võ Thanh Điệp, sinh năm 1986; Địa chỉ: Thôn Kim Sơn, xã Ân Nghĩa, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger