Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HÀ TĨNH


Số: 79/2023/QĐST- HNGĐ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Hà Tĩnh, ngày 26 tháng 8 năm 2023

QUYẾT ĐỊNH

GIẢI QUYẾT VIỆC HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

(V/v yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn)

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH

Thành phần giải quyết việc Hôn nhân gia đình:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Phan Thị Nguyệt Thu

Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Hải Thuần

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên họp: Bà Hồ Thị Thùy Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh, mở phiên họp công khai giải quyết việc Hôn nhân gia đình thụ lý số 106/2023/TLST-HNGĐ ngày 21/7/2023 về việc “Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn”, theo Quyết định mở phiên họp số 71/2023/QĐ-TA ngày 15 tháng 8 năm 2023 bao gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc Hôn nhân gia đình:

  1. Người yêu cầu: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1996; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn Đ, xã H, huyện L, tỉnh Hà Tĩnh.
  2. Người yêu cầu: Anh Trần Văn L, sinh năm 1993; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn 8, xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. Hiện đang lao động tại Nhật Bản

NỘI DUNG VIỆC HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH:

- Theo đơn yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, bản tự khai của chị Nguyễn Thị T và đơn yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, bản tự khai của anh Trần Văn L trình bày thống nhất như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T và anh Trần Văn L đăng ký kết hôn hợp pháp với nhau vào ngày 25/5/2018 tại Tổng lãnh sứ quán Việt Nam tại Fukuoka, Nhật Bản trên cơ sở tự nguyện và không bị ai ép buộc. Sau khi kết hôn, chị T và anh L chung sống hạnh phúc với nhau được một thời gian ngắn thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn do tính tình không hòa hợp, cuộc sống không tìm thấy tiếng nói chung nên dẫn đến vợ chồng sống ly thân nhau cho đến nay. Cuối năm 2019 chị T về Việt Nam còn anh L tiếp tục sinh sống và lao động tại Nhật Bản. Nay, chị T và anh L đều tự nhận thấy tình cảm không còn, mục đích xây dựng hạnh phúc gia đình không đạt được nên mong muốn được ly hôn để mỗi người tự xây dựng cuộc sống mới.

Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân chị Nguyễn Thị T và anh Trần Văn L không có con chung.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh Trần Văn L trình bày do điều kiện công việc không thể về Việt Nam để trực tiếp giải quyết việc ly hôn giữa anh và chị T nên anh xin được vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết việc ly hôn đồng thời ủy quyền việc giao nhận tài liệu, chứng cứ cho bà Nguyễn Thị T (mẹ đẻ anh L); địa chỉ: Thôn V, xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh sau khi nhận xét việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Thư ký và các đương sự đã phân tích nội dung vụ việc, các vấn đề đương sự đã thỏa thuận thống nhất được với nhau đã đề nghị Tòa án áp dụng Điều 369, Điều 370 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, khoản 1 Điều 51, 55, 123, 127 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Nghị quyết 326/2016/UBTVQHH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội chấp nhận yêu cầu của các đương sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc Hôn nhân gia đình; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp; Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh nhận định:

[1] Thủ tục tố tụng:

Anh Trần Văn L hiện đang lao động tại Nhật Bản có xác nhận của Đại sứ quán Việt Nam tại Nhật Bản, nên vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh theo quy định tại Điều 29, Điều 37, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Anh Trần Văn L có đơn yêu cầu được vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết việc hôn nhân gia đình và ủy quyền việc giao nhận tài liệu chứng cứ cho bà Nguyễn Thị Trung (mẹ đẻ anh L); địa chỉ: Thôn V, xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. Căn cứ quy định tại Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành mở phiên họp giải quyết việc Hôn nhân gia đình vắng mặt anh Trần Văn L theo thủ tục chung.

[2] Về nội dung:

[2.1] Quan hệ hôn nhân:

Chị Nguyễn Thị T và anh Trần Văn L đã tuân thủ các điều kiện kết hôn và đã đăng ký kết hôn vào ngày 25/5/2018 tại Tổng lãnh sứ quán Việt Nam tại Fukuoka, Nhật Bản. Căn cứ quy định Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì đây là hôn nhân hợp pháp.

Sau khi kết hôn, cuộc sống chung của chị Nguyễn Thị T và anh Trần Văn L hạnh phúc được thời gian ngắn thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn là do cuộc sống chung vợ chồng không đồng nhất, không tìm thấy tiếng nói chung nên tình cảm phai nhạt, không còn quan tâm đến nhau. Nay, chị T và anh L đều tự nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng và không mong muốn tiếp tục duy trì mối quan hệ hôn nhân này.

Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 quy định “Vợ, chồng hoặc cả hai có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn” (khoản 1 Điều 51); “Trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thỏa thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở đảm bảo quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án công nhận thuận tình ly hôn....”(Điều 55).

Như vậy, chị Nguyễn Thị T và anh Trần Văn L đã tự nguyện thỏa thuận ly hôn. Căn cứ quy định tại Điều 55 Luật Hôn nhân gia đình, công nhận sự thỏa thuận này của các đương sự.

[2.2] Quan hệ con chung:

Trong thời kỳ hôn nhân chị Nguyễn Thị T và anh Trần Văn L không có con chung

[2.3] Về tài sản chung:

Các đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét.

Xét thấy, sự thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện, đúng pháp luật, không vi phạm điều cấm. Mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, không có khả năng đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được, nên cần công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị T và anh L.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 51, 55, 123, 127 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014, các Điều 361, 367, 369, 370, 371, Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 35, 37 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị T và anh Trần Văn L
  2. Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Chấp nhận sự tự nguyện nộp 300.000₫ lệ phí ly hôn sơ thẩm của chị Nguyễn Thị T (đã nộp 300.000đ tại biên lai số 0000570 ngày 20/7/2023 tại Cục thi hành án Dân sự tỉnh Hà Tĩnh).
  3. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu giải quyết việc Hôn nhân và gia đình không có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát cùng cấp, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp không có quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm đối với Quyết định này.

Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao;
  • - VKSND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Cục THADS tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Đương sự ;
  • - Lưu HS, TDS.

THẨM PHÁN- CHỦ TRÌ PHIÊN HỌP

Phan Thị Nguyệt Thu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Quyết định số 79/2023/QĐST- HNGĐ ngày 26/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH về yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn

  • Số quyết định: 79/2023/QĐST- HNGĐ
  • Quan hệ pháp luật: Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/08/2023
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị T và anh Trần Văn L
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger