|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - HÀ NỘI SỐ: 780/2025/QĐST-VHNGĐ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Hà Nội, ngày 20 tháng 11 năm 2025 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC HÔN NHÂN GIA ĐÌNH
V/v Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - HÀ NỘI
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng - Thẩm phán Tòa án nhân dân khu vực 6 - Hà Nội
Thư ký phiên họp: Bà Hoàng Thị Phương Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 6 - Hà Nội
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Hà Nội tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Thu - Kiểm sát viên.
Trong ngày 20 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 6 - Hà Nội mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc hôn nhân và gia đình thụ lý số 461/2025/TLST-VHNGĐ ngày 06/10/2025 về việc “Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn” theo Quyết định mở phiên họp giải quyết việc số 461/2025/QĐ - VHNGĐ ngày 13/11/2025, giữa:
+ Anh Lưu Hữu H, sinh ngày 20/8/1983. Quốc tịch Việt Nam. Hộ chiếu số: C6362023. Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Thôn T, xã P, Thành phố Hà Nội. Địa chỉ hiện nay: Số B, hẻm B, đường L, quận N, thành phố C, Đài Loan.
Người đại diện theo ủy quyền nộp các tài liệu chứng cứ và nhận văn bản tố tụng: Anh Đào Dương P, số CCCD: [...], nơi thường trú: P28 B18 Nam T, phường L, Thành phố Hà Nội; Địa chỉ liên hệ: số I T, phường Y, quận C, Thành phố Hà Nội. Anh H xin vắng mặt, anh P có mặt.
+ Chị Nguyễn Thị N, sinh ngày 23/06/1984. Quốc tịch Việt Nam. Hộ chiếu số: Q00530702. Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Thôn T, xã P, Thành phố Hà Nội. Địa chỉ hiện nay: Tầng A, số G, ngách B, hẻm A, đường T, quận T, thành phố T, Đài Loan.
Người đại diện theo ủy quyền nộp các tài liệu chứng cứ và nhận văn bản tố tụng: Chị Nguyễn Thị Hồng G, số CCCD: [...], nơi thường trú: Xóm C, xã H, tỉnh Ninh Bình; Địa chỉ liên hệ: I T, phường Y, Thành phố Hà Nội. Chị N xin vắng mặt, chị G có mặt.
2. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Quang T, sinh năm 1963 và bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1964 (bố mẹ đẻ của chị Nguyễn Thị N). Nơi cư trú hiện nay: Thôn K, xã P, Thành phố Hà Nội. Ông T, bà S xin vắng mặt.
NỘI DUNG VIỆC HÔN NHÂN GIA ĐÌNH:
* Theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự về việc công nhận thuận tình ly hôn, nuôi con, bản tự khai của anh Lưu Hữu H và chị Nguyễn Thị N, anh chị trình bày:
- Về tình cảm: Anh Lưu Hữu H và chị Nguyễn Thị N kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, thành phố Hà Nội (nay là UBND xã P, thành phố Hà Nội), số đăng ký kết hôn 12/2003 ngày 27/3/2003 theo Trích lục kết hôn bản sao số 559/2025/TLKH-BS do UBND xã P cấp ngày 10/9/2025.
Anh Lưu Hữu H và chị Nguyễn Thị N cùng xác nhận tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên cùng yêu cầu Tòa án nhân dân khu vực 6 - Hà Nội công nhận thuận tình ly hôn cho anh chị.
- Về con chung: Anh Lưu Hữu H và chị Nguyễn Thị N xác nhận anh chị có 03 con chung là Lưu Thu P1, sinh ngày 15/03/2004; Lưu Thị Diệu L, sinh ngày 06/06/2006 và Lưu Hữu D, sinh ngày 16/09/2008.
Hiện nay con chung là Lưu Thu P1, sinh ngày 15/03/2004 và Lưu Thị Diệu L, sinh ngày 06/06/2006 đều đã trưởng thành nên anh chị không đề nghị Tòa án giải quyết. Con chung là Lưu Hữu D, sinh ngày 16/09/2008 hiện đang sống cùng ông bà ngoại là ông Nguyễn Quang T, sinh năm 1963 và bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1964 (bố mẹ đẻ của chị Nguyễn Thị N) tại thôn K, xã P, Thành phố Hà Nội.
Ly hôn, anh H và chị N cùng thỏa thuận giao con chung là Lưu Hữu D, sinh ngày 16/09/2008 cho chị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Việc cấp dưỡng nuôi con chung anh chị tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Anh chị thỏa thuận trong thời gian chị N ở nước ngoài, đề nghị Tòa án tạm giao con chung là cháu Lưu Hữu D cho ông Nguyễn Quang T và bà Nguyễn Thị S chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi chị N trở về nước.
- Về tài sản chung, nợ chung, nghĩa vụ chung: Anh chị xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về lệ phí: Anh chị thống nhất thỏa thuận anh Lưu Hữu H là người chịu toàn bộ lệ phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Do điều kiện không thể về Việt Nam giải quyết được nên anh Lưu Hữu H và chị Nguyễn Thị N đã có Đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự về việc công nhận thuận tình ly hôn, nuôi con, bản tự khai và xin giải quyết vắng mặt, đồng thời có văn bản ủy quyền cho anh Đ Dương P và chị Nguyễn Thị Hồng G giao, nộp các tài liệu chứng cứ, nhận các văn bản tố tụng của Tòa án và các cơ quan tiến hành tố tụng khác. Các văn bản trên đều đã được Văn phòng K tại Đ xác nhận vào các ngày 04/8/2025 và 12/8/2025.
* Ông Nguyễn Quang T và bà Nguyễn Thị S trình bày:
Chị Nguyễn Thị N và anh Lưu Hữu H kết hôn, có đăng ký tự nguyện tại ủy ban nhân dân xã T, C cũ, Hà Nội ngày 27 tháng 3 năm 2003. Anh chị chung sống một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, gia đình đã hòa giải nhưng không có kết quả. Hiện nay anh chị thuận tình ly hôn. Ông bà cũng nhất trí đề nghị Tòa án công nhận thuận tình ly hôn cho chị N, anh H.
Về con chung: Anh chị có 03 con chung là cháu Lưu Thu P1, Lưu Thị Diệu L và Lưu Hữu D. Con chung là Lưu Hữu D, sinh ngày 16/9/2008 hiện nay đang ở cùng với ông bà tại thôn K, xã P, thành phố Hà Nội. Anh chị đã thống nhất thỏa thuận khi ly hôn, giao con chung là cháu Lưu Hữu D cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng. Trong thời gian chị N ở nước ngoài, ông bà nhất trí sẽ chăm sóc cháu D cho đến khi mẹ cháu là chị N về Việt Nam.
Về tài sản chung, nợ chung: Ông T, bà S không nắm được, đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
Do điều kiện nhà xa nên ông Nguyễn Quang T và bà Nguyễn Thị S xin được vắng mặt trong quá trình vụ việc giải quyết tại Tòa án.
* Cháu Lưu Hữu D (con chung của anh H, chị N) trình bày: Khi bố mẹ cháu ly hôn, cháu có nguyện vọng ở với mẹ, ông bà ngoại sẽ chăm sóc cháu trong thời gian mẹ cháu ở nước ngoài.
* Tại phiên họp:
Anh Lưu Hữu H và chị Nguyễn Thị N đều có đơn xin giải quyết vắng mặt.
Anh Đào Dương P và chị Nguyễn Thị Hồng G có mặt, đồng ý nhận ủy quyền của anh Lưu Hữu H và chị Nguyễn Thị N, cam kết nhận các văn bản tố tụng của Tòa án, các cơ quan tiến hành tố tụng khác và có trách nhiệm giao, thông báo gửi các văn bản cho anh H, chị N.
Ông Nguyễn Quang T và bà Nguyễn Thị S đều xin vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Hà Nội phát biểu:
- Về tố tụng: Việc Hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 6 - Hà Nội. Các đương sự đã được thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng. Tòa án nhân dân khu vực 6 cần rút kinh nghiệm về thời hạn mở phiên họp giải quyết việc hôn nhân và gia đình bị quá thời hạn theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung, các đương sự đã tự nguyện thỏa thuận, phù hợp với quy định của pháp luật và không trái đạo đức xã hội nên đề nghị Tòa án:
+ Chấp nhận yêu cầu thuận tình ly hôn giữa anh Lưu Hữu H và chị Nguyễn Thị N.
+ Về con chung: Anh Lưu Hữu H và chị Nguyễn Thị N xác nhận anh chị có 03 con chung là Lưu Thu P1, sinh ngày 15/03/2004; Lưu Thị Diệu L, sinh ngày 06/06/2006 và Lưu Hữu D, sinh ngày 16/09/2008.
Ghi nhận sự thỏa thuận của anh H, chị N về việc giao con chung là Lưu Hữu D cho chị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Việc cấp dưỡng anh chị tự thỏa thuận nên không xem xét.
Anh chị có thỏa thuận trong thời gian chị N ở nước ngoài tạm giao con chung là cháu Lưu Hữu D cho ông Nguyễn Quang T và bà Nguyễn Thị S chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi chị N trở về nước. Đối với yêu cầu trên của anh chị, thấy rằng: Việc trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi cha mẹ ly hôn là quyền và nghĩa vụ của cha, mẹ theo quy định tại điều 69, 71, 81 Luật hôn nhân và gia đình, vì vậy đề nghị Tòa án không chấp nhận.
Thực tế, cháu Lưu Hữu D hiện đang sống cùng ông bà ngoại là ông Nguyễn Quang T, sinh năm 1963 và bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1964 (bố mẹ đẻ của chị Nguyễn Thị N) tại thôn K, xã P, Thành phố Hà Nội nên cháu được đảm bảo quyền lợi chăm sóc khi bố mẹ đang ở nước ngoài.
+ Về tài sản chung, nợ chung, nghĩa vụ chung: Anh chị không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
+ Về lệ phí: Anh chị thỏa thuận anh H là người chịu toàn bộ lệ phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nên cần chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc Hôn nhân và gia đình được thẩm tra tại phiên họp, ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát phiên họp, Tòa án nhân dân khu vực 6 - Hà Nội nhận định:
[1] Về thẩm quyền giải quyết việc hôn nhân gia đình: Anh Lưu Hữu H và chị Nguyễn Thị N có đơn yêu cầu Tòa án nhân dân khu vực 6 - Hà Nội việc công nhận thuận tình ly hôn, nuôi con. Xét thấy, anh Lưu Hữu H và chị Nguyễn Thị N đều đang ở nước ngoài nhưng có nơi đăng ký nhân khẩu thường trú tại xã P, thành phố Hà Nội nên việc hôn nhân gia đình trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 6 - Hà Nội theo Điều 29; Điều 35; khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 của Quốc hội ngày 25/6/2025.
[2] Về thủ tục tố tụng: Do điều kiện không thể về Việt Nam giải quyết được nên anh Lưu Hữu H và chị Nguyễn Thị N đã có Đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự về việc công nhận thuận tình ly hôn, nuôi con, bản tự khai và xin giải quyết vắng mặt, đồng thời có văn bản ủy quyền cho anh Đ Dương P và chị Nguyễn Thị Hồng G giao, nộp các tài liệu chứng cứ, nhận các văn bản tố tụng của Tòa án và các cơ quan tiến hành tố tụng khác. Các văn bản trên đều đã được Văn phòng K tại Đ xác nhận vào các ngày 04/8/2025 và 12/8/2025 là phù hợp với quy định của pháp luật.
Anh Đào Dương P và chị Nguyễn Thị Hồng G đồng ý nhận ủy quyền của anh Lưu Hữu H và chị Nguyễn Thị N, cam kết nhận các văn bản tố tụng của Tòa án, các cơ quan tiến hành tố tụng khác và có trách nhiệm giao, thông báo gửi các văn bản cho anh H, chị N. Ông Nguyễn Quang T và bà Nguyễn Thị S xin được vắng mặt trong quá trình vụ việc giải quyết tại Tòa án. Căn cứ vào điều 376 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành mở phiên họp giải quyết vắng mặt anh H, chị N, ông T, bà S.
[3] Về nội dung: Xét yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, nuôi con của anh Lưu Hữu H và chị Nguyễn Thị N, Tòa án nhận thấy:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh Lưu Hữu H và chị Nguyễn Thị N kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, thành phố Hà Nội (nay là UBND xã P, thành phố Hà Nội), số đăng ký kết hôn 12/2003 ngày 27/3/2003 theo Trích lục kết hôn bản sao số 559/2025/TLKH-BS do UBND xã P cấp ngày 10/9/2025 nên hôn nhân giữa anh H và chị N là hôn nhân hợp pháp.
Sau khi kết hôn, cuộc sống vợ chồng ban đầu hạnh phúc. Tuy nhiên để phát triển kinh tế gia đình, năm 2007 anh Lưu Hữu H đã xuất cảnh sang Đài Loan để làm việc. Kể từ đó, mối quan hệ giữa hai vợ chồng dần trở nên xa cách vì không có điều kiện vun vén tình cảm, vợ chồng chỉ giữ liên lạc với nhau qua điện thoại. Từ năm 2015, hai vợ chồng đã nảy sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không còn sự thấu hiểu đồng cảm với nhau. Năm 2016, chị Nguyễn Thị N cũng xuất cảnh sang Đài Loan làm việc, tuy nhiên anh chị không thể sắp xếp công việc, nơi ở để có thể chung sống cùng nhau. Điều đó khiến cho mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, việc sống ly thân lâu ngày khiến cho hai vợ chồng càng thêm lạnh nhạt, không ai quan tâm đến ai. Vợ chồng đã nhiều lần tìm cách hàn gắn tình cảm vợ chồng và được hai bên gia đình khuyên bảo vợ chồng đoàn tụ nhưng không có kết quả.
Đến nay, anh chị nhận thấy hôn nhân đã rơi vào tình trạng trầm trọng, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn, mục đích của hôn nhân trên thực tế không đạt được, nên cùng làm đơn đề nghị Toà án nhân dân khu vực 6 - Hà Nội giải quyết cho anh chị được ly hôn.
Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng anh chị đã trầm trọng không thể khắc phục, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích hôn nhân không đạt được, yêu cầu thuận tình ly hôn của hai bên là hoàn toàn tự nguyện, không trái đạo đức xã hội và phù hợp với quy định tại điều 51, điều 55, điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình nên cần chấp nhận.
- Về con chung: Anh Lưu Hữu H và chị Nguyễn Thị N cùng xác nhận anh chị có 03 con chung là Lưu Thu P1, sinh ngày 15/03/2004; Lưu Thị Diệu L, sinh ngày 06/06/2006 và Lưu Hữu D, sinh ngày 16/09/2008. Hiện nay con chung là Lưu Thu P1, sinh ngày 15/03/2004 và Lưu Thị Diệu L, sinh ngày 06/06/2006 đều đã trưởng thành nên anh chị không đề nghị Tòa án giải quyết.
Ly hôn, anh H và chị N cùng thỏa thuận giao con chung là Lưu Hữu D, sinh ngày 16/09/2008 cho chị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Việc cấp dưỡng nuôi con chung do anh chị tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Sự thỏa thuận trên của các đương sự là tự nguyện, không trái đạo đức xã hội và phù hợp nên cần ghi nhận.
Anh chị có thỏa thuận trong thời gian chị N ở nước ngoài tạm giao con chung là cháu Lưu Hữu D cho ông Nguyễn Quang T và bà Nguyễn Thị S chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi chị N trở về nước. Đối với yêu cầu trên của anh chị, Tòa án thấy rằng: Việc trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi cha mẹ ly hôn là quyền và nghĩa vụ của cha, mẹ theo quy định tại điều 69, 71, 81 Luật hôn nhân và gia đình, vì vậy không có căn cứ chấp nhận.
Thực tế, cháu Lưu Hữu D hiện đang sống cùng ông bà ngoại là ông Nguyễn Quang T, sinh năm 1963 và bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1964 (bố mẹ đẻ của chị Nguyễn Thị N) tại thôn K, xã P, Thành phố Hà Nội nên cháu được đảm bảo quyền lợi chăm sóc khi bố mẹ đang ở nước ngoài.
- Về tài sản chung, nợ chung, nghĩa vụ chung: Anh chị xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
- Về lệ phí: Anh chị thỏa thuận anh H là người chịu toàn bộ lệ phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng nên cần ghi nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 2 Điều 29; Điều 35; Điều 39; Điều 67; Điều 144; khoản 2 Điều 149; Điều 361; Điều 367; Điều 369; Điều 370 và Điều 371 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 51, Điều 55, 57, 58, 69, 71, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án ngày 10/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
Căn cứ khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án của Quốc hội ngày 25/6/2025;
1. Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa: Anh Lưu Hữu H và chị Nguyễn Thị N.
2. Về con chung: Anh Lưu Hữu H và chị Nguyễn Thị N có 03 con chung là Lưu Thu P1, sinh ngày 15/03/2004 (đã trưởng thành); Lưu Thị Diệu L, sinh ngày 06/06/2006 (đã trưởng thành) và Lưu Hữu D, sinh ngày 16/09/2008.
Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận của anh H, chị N: Giao chị Nguyễn Thị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là Lưu Hữu D, sinh ngày 16/09/2008, kể từ khi anh chị ly hôn cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác. Việc cấp dưỡng nuôi con chung anh chị tự thỏa thuận.
Anh Lưu Hữu H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung, nợ chung, nghĩa vụ chung: Anh chị xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Về lệ phí: Ghi nhận sự tự nguyện của anh chị về việc anh H tự nguyện chịu số tiền lệ phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng (được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0010310 ngày 06/10/2025 của Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội). Xác nhận anh chị đã nộp đủ lệ phí sơ thẩm.
5. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Nguyễn Thị Thu Hằng |
Quyết định số 780/2025/QÐST-VHNGĐ ngày 20/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - HÀ NỘI về yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn
- Số quyết định: 780/2025/QÐST-VHNGĐ
- Quan hệ pháp luật: Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/11/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 11.25 QĐ giải quyết việc H - Nh
