Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 78 /2024/QÐST-HNGĐ

Ngày: 09/9/2024.

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

(V/v Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn)

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG

Thành phần giải quyết việc hôn nhân và gia đình gồm có:

- Chủ tọa phiên họp: Bà Phạm Thị Mai Hoa - Thẩm phán

- Thư ký phiên họp: Ông Lê Quốc Phong - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên họp: Bà Phạm Thị Thùy - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương mở phiên họp công khai giải quyết việc hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số 407/2024/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 7 năm 2024, về việc “Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn”, theo Quyết định mở phiên họp số 460/2024/QÐST-HNGĐ ngày 30 tháng 8 năm 2024, giữa:

Người yêu cầu:

- Bà Phạm Thị H, sinh năm 1969,

Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Thôn V, xã L, thị xã K, tỉnh Hải Dương. Nơi ở hiện nay: M - Trung Quốc

Người được bà H ủy quyền giao nhận, văn bản tố tụng: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1988, địa chỉ: Thôn V, xã L, thị xã K, tỉnh Hải Dương.

- Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1966,

Địa chỉ: Thôn V, xã L, thị xã K, tỉnh Hải Dương.

Bà H, ông T1, chị T đều đề nghị giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VIỆC HÔN NHÂN VÀ ĐÌNH:

Theo đơn xin ly hôn của bà Phạm Thị H và ông Nguyễn Văn T1, cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị H và ông Nguyễn Văn T1 tự do tìm hiểu, tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện K (nay là thị xã K), tỉnh Hải Dương vào năm 1987. Do thời gian đã quá lâu nên ông bà đều không còn lưu giữ được Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2003 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính cách không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên xảy ra cãi vãi. Năm 2003, bà H đi Ma Cao - Trung Quốc làm việc, ông T1 ở Việt Nam chăm sóc con nhỏ. Do thường xuyên mâu thuẫn nên từ năm 2007, vợ chồng đã không còn liên lạc nói chuyện với nhau. Xác định vợ chồng không còn tình cảm nên tháng 7/2024 bà H về Việt Nam nên ông bà đã thống nhất làm đơn đề nghị Toà án giải quyết cho ông bà được ly hôn với nhau.

- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Thị T, sinh ngày 16/8/1988 và Nguyễn Thị Hà A, sinh ngày 12/8/1993. Hiện nay, các con chung đều đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về quan hệ tài sản chung: Ông bà không yêu cầu Toà án giải quyết;

- Về lệ phí dân sự: Bà H tự nguyện chịu toàn bộ lệ phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Theo xác minh tại Ủy ban nhân dân xã L: Qua tra cứu hồ sơ lưu trữ tại Ủy ban nhân dân xã T3 không còn lưu trữ sổ hộ tịch đăng ký kết hôn từ trước năm 1988. Cán bộ địa phương xác định ông Nguyễn Văn T1 và bà Phạm Thị H có tổ chức đám cưới, có chung sống với nhau nhưng từ thời điểm nào thì địa phương không nắm được.

Phạm Thị H1 (chị gái của bà Phạm Thị H) trình bày: Bà là chị gái của bà Phạm Thị H, còn ông Nguyễn Văn T1 là em rể của bà. Hiện nay bố mẹ đẻ của bà và bà H là cụ Nguyễn Thị T2 và cụ Phạm Hữu B đều đã chết. Năm 1986, bà H và ông T1 có quan hệ tình cảm và báo cáo gia đình hai bên để tổ chức đám cưới. Cuối năm 1986, gia đình tổ chức đám cưới cho bà H và ông T1, sau khi tổ chức đám cưới bà H đã chuyển về chung sống cùng gia đình ông T1 tại thôn V, xã L, thị xã K, tỉnh Hải Dương. Bà H có nói chuyện với bà về việc vợ chồng bà H, ông T1 đã đi đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L vào đầu năm 1987.

Tại phiên họp bà H và ông T1 đều xin vắng mặt và giữ nguyên quan điểm đề nghị Tòa án công nhận thuận tình ly hôn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương phát biểu quan điểm:

- Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Thư ký, các đương sự đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về quan điểm giải quyết việc: Đề nghị Tòa án áp dụng khoản 2 Điều 44 Nghị định 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính Phủ, Điều 55 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn của bà Phạm Thị H và ông Nguyễn Văn T1; Về con chung: Các con chung đã trưởng thành nên không xem xét; Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên không giải quyết; Về lệ phí: Bà Phạm Thị H tự nguyện chịu 300.000 đồng lệ phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc hôn nhân và gia đình được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương nhận định:

[1]. Về tố tụng: Bà Phạm Thị H và ông Nguyễn Văn T1 có đơn đề nghị Tòa án công nhận thuận tình ly hôn. Bà Phạm Thị H hiện đang sinh sống và làm việc tại Ma Cao - Trung Quốc, ông Nguyễn Văn T1 có địa chỉ tại thị xã K, tỉnh Hải Dương. Do vậy, việc dân sự yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn của chị bà H, ông T1 thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương theo quy định tại khoản 2 Điều 29, điểm b khoản 1 Điều 37, điểm h khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Phạm Thị H không trực tiếp tham gia tố tụng tại Tòa án nhưng đã ủy quyền cho chị Nguyễn Thị T ở Việt Nam thay mặt bà H giao nộp các tài liệu, gồm: Đơn xin ly hôn, bản tự khai, giấy ủy quyền, đơn xin giải quyết vắng mặt. Các văn bản của bà H đều được xác nhận Ủy ban nhân dân xã L, thị xã K. Do vậy, các tài liệu này là hợp pháp.

H, ông T1, chị T đều đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành mở phiên họp giải quyết việc dân sự vắng mặt các đương sự theo thủ tục chung.

[2]. Về nội dung:

[2.1]. Về quan hệ hôn nhân:

Phạm Thị H và ông Nguyễn Văn T1 được tự do tìm hiểu và được hai bên gia đình tổ chức đám cưới theo phong tục địa phương. Sau khi được hai bên gia đình tổ chức đám cưới bà H đã về chung sống cùng ông T1 gia đình ông T1. Bà H và ông T1 đều trình bày là ông bà đã thực hiện việc đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L vào đầu năm 1987 nhưng bà H và ông T1 không cung cấp được Giấy chứng nhận kết hôn. Tòa án đã tiến hành xác minh tại Ủy ban nhân dân xã L nhưng Ủy ban nhân dân xã L không còn lưu trữ sổ hộ tịch đăng ký kết hôn tại xã từ trước năm 1988. Tuy nhiên, Tòa án xác minh qua đại diện thôn V, xã L nơi bà H và ông T1 sinh sống và chị gái bà H thì đều xác định bà H, ông T1 đã được hai bên gia đình tổ chức đám cưới và bà H đã về chung sống cùng ông T1 cuối năm 1986; bà H và ông T1 đã thực hiện việc đăng ký kết hôn vào đầu năm 1987. Do đó, có cơ sở xác định bà H và ông T1 sống chung với nhau từ năm 1986. Theo quy định tại điểm a khoản 3 Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội về việc thi hành Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000; Khoản 2 Điều 44 Nghị định 123/2015/NĐ-CP ngày 15 tháng 11 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch. Bà H và ông T1 chung sống với nhau là trước ngày 03 tháng 01 năm 1987 nên hôn nhân của ông, bà là hôn nhân hợp pháp. Bà H, ông T1 cùng có quan điểm vợ chồng sống chung thường hay cãi vã và do bất đồng quan điểm, vợ chồng đã sống ly thân nhiều năm, không còn quan tâm đến nhau. Vợ chồng đã thống nhất nên cùng làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn. Xét thấy, tình trạng hôn nhân giữa bà H, ông T1 đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn của bà H và ông T1 là phù hợp với quy định tại Điều 55 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

[2.2]. Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không phải xem xét

[2.3]. Về tài sản chung, nợ chung: Bà H, ông T1 không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.

[3]. Về lệ phí ly hôn sơ thẩm: Bà Phạm Thị H tự nguyện chịu 300.000 đồng lệ phí ly hôn sơ thẩm.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 55 Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 2 Điều 29, điểm b khoản 1 Điều 37, điểm h khoản 2 Điều 39, Điều 149, Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật Phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Khoản 2 Điều 44 Nghị định 123/2015/NĐ-CP ngày 15 tháng 11 năm 2015 của Chính phủ; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa bà Phạm Thị H và ông Nguyễn Văn T1.
  2. Về lệ phí ly hôn sơ thẩm: Bà Phạm Thị H tự nguyện chịu lệ phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng, được đối trừ số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp theo Biên lai thu số 0000899 ngày 30 tháng 7 năm 2024 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương (bà H đã thực hiện xong).
  3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm./.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND tỉnh Hải Dương;
  • - Cục THADS tỉnh Hải Dương;
  • - UBND xã Lạc Long, thị xã Kinh Môn (để ghi vào sổ hộ tịch);
  • - Lưu hồ sơ, VP, Tòa GĐ&NCTN, Tòa HC.

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP

Phạm Thị Mai Hoa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Quyết định số 78/2024/QÐST-HNGĐ ngày 09/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn

  • Số quyết định: 78/2024/QÐST-HNGĐ
  • Quan hệ pháp luật: Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Thị H và Nguyễn Văn T1 công nhận thuận tình ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger