Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN BÌNH THẠNH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 78/2024/HS-ST

Ngày: 13/5/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Thanh Tùng

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Bùi Thị Hòa Bình
  2. Bà Nguyện Thị Nhơn

Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Tường Phúc – Thư ký Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Dũng – Kiểm sát viên

Ngày 13 tháng 5 năm 2024 tại phòng xử án - trụ sở Tòa án nhân quận B, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số 56/2024/TLST-HS ngày 18 tháng 03 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 97/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Bùi Đức L, tên gọi khác: Không;

Sinh năm 2000, tại Thành phố Hồ Chí Minh

Hộ khẩu thường trú: Nhà số A đường N, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; Chổ ở hiện nay: Nhà số A đường N, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ văn hóa: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên chúa; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Đức B và bà Lê Thị L1; vợ con: không có; Gia đình bị cáo có 04 anh chị em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình.

Tiền án, tiền sự: Không

Nhân thân:

- Từ nhỏ đến nay: Sống cùng gia đình tại nhà số A đường N, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 29/12/2023.

Bị cáo có mặt tại phiên toà.

3.Những người tham gia tố tụng khác:

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Bùi Đức B, sinh năm 1973-có mặt
  2. Địa chỉ: 123/28/25 Nguyễn Xí, Phường 26, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh

  3. Chị Võ Thị Lệ H, sinh năm 1997-vắng mặt
  4. Anh Trần Văn H1, sinh năm 1997-có mặt
  5. Cùng trú tại: 4 L, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh

  6. Chị Bùi Thị H2, sinh năm 2001-có mặt
  7. Địa chỉ: 123/28/25 N, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 12 giờ 50 phút ngày 24/4/2023, Công an P1, quận B nhận được tin báo của chị Võ Hoàng Thúy L2 (sinh năm 1990; thường trú: Nhà số A đường N, Phường B, quận B) về việc tại nhà vệ sinh của nhà chị L2 xuất hiện một số vật thể nghi vấn là ma túy. Công an P1, quận B phối hợp với Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an quận B tiến hành xuống hiện trường để ghi nhận sự việc. Tại hiện trường trên sàn nhà vệ sinh tại tầng trệt nhà chị L2 có:

  • 01 gói nylon chứa tinh thể không màu
  • 01 gói nylon chứa nhiều viên nén màu xanh.
  • 01 gói nylon chứa nhiều viên nén màu nâu.

- Trong nhà vệ sinh có treo 01 bao tải màu trắng bên trên có 01 gói nylon chứa tinh thể không màu.

- Tại vị trí hàng rào sắt trên nóc nhà vệ sinh có 01 bóp da màu đen.

Chị Võ Hoàng Thúy L2 cho biết nhà vệ sinh tại tầng trệt của nhà chị L2 sát với nhà số A đường N, Phường B, quận B. Nhà vệ sinh có kết cấu nóc được rào bởi hàng rào sắt để lấy ánh sáng tự nhiên, từ ngoài có thể nhìn vào trong.

Đội Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an quận B phối hợp với Công an P1, quận B tiến hành kiểm tra hành chính, khám xét khẩn cấp nhà số A đường N, Phường B, quận B. Qua khám xét phát hiện:

- Trong phòng ngủ dưới tầng trệt có mặt Bùi Thị H2. Qua kiểm tra phát hiện 01 két sắt bên trong có 01 gói nylon chứa tinh thể không màu.

- Trong phòng ngủ đầu tiên bên trái cầu thang tầng 02 có mặt Nguyễn Thanh Trúc V. Qua kiểm tra phát hiện trên đầu tủ quần áo có 01 đĩa sứ màu len trắng đựng 01 tờ tiền 10.000 đồng được cuốn thành ống hút, 01 thẻ ATM của ngân hành T1 mang tên Nguyễn Trọng N. Trong ba lô màu trắng của Nguyễn Thanh T V có 01 gói nylon chứa mảnh vụn viên nén màu xanh, 01 căn cước công dân (bản photo), 01 bằng tốt nghiệp trung học phổ thông (bản photo) mang tên Nguyễn Thanh Trúc V.

- Trong phòng ngủ thứ hai bên trái cầu thang tầng 02 có mặt Trần Thị Kiều L3. Kiểm tra 01 bóp da màu đen có căn cước công dân mang tên Nguyễn Trọng N.

Nguyễn Thanh Trúc V khai nhận số ma túy Công an thu giữ tại nhà của chị Võ Hoàng Thúy L2 là của Nguyễn Trọng N ném xuống từ nhà vệ sinh phòng của V. Đội Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an quận B tiến hành truy xét đưa Nguyễn Trọng N về trụ sở làm việc.

Kết luận giám định số 4211/KL-KTHS ngày 02/5/2023 của Phòng K1 Công an Thành phố H kết luận: 02 gói được niêm tin phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Võ Hoàng Thủy L4 và hình dấu Công an phường P1, quận B, bên trong có:

- Gói 1:

+ Tinh thể không màu trong 01 gói nylon là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 49,7965g, loại Ketamine

+ Nhiều viên nén màu xanh trong 01 gói nylon đều là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 17,5310g, loại MDMA

+ Nhiều viên nén màu nâu trong 01 gói nylon đều là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 17,9671g, loại MDMA.

- Gói 2: Tinh thể không màu trong 01 gói nylon là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 49,7249g, loại Ketamine

Kết luận giám định số 4212/KL-KTHS ngày 02/5/2023 của Phòng K1 Công an Thành phố H kết luận:

- Gói 1: Mảnh vụn viên nén màu xanh trong 01 gói nylon được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Nguyễn Thanh T Vẫn và hình dấu Công an phường P1, quận B được gửi đến gián định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,1164g, loại MDMA.

- Gói 2: Tinh thể không màu trong 01 gói nylon được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Bùi Thị H2 và hình dấu Công an phường P1, quận B được gửi đến giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 9,9135g, loại Ketamine.

Quá trình điều tra xác định như sau:

Về mối quan hệ của các đối tượng tại nhà số A đường N, Phường B, quận B.

Nguyễn Thanh Trúc V, Bùi Thị H2, Bùi Đức L, Nguyễn Trọng N là bạn bè chơi chung với nhau và cùng thuê nhà số A N, Phường B, quận B để ở. Bùi Đức L là người đứng tên thuê nhà, tất cả những người ở cùng góp tiền để trả tiền thuê nhà . Bùi Thị H2 và Bùi Đức L ở chung với nhau tại phòng ngủ dưới tầng trệt, Nguyễn Thanh T V ở phòng ngủ thứ nhất bên trái cầu thang tầng 2, Nguyễn Trọng N ở phòng ngủ thứ hai bên trái cầu thang tầng 2. Trần Thị Kiều L3 là người yêu của Nguyễn Trọng N thường xuyên qua chơi với N. Thời điểm kiểm tra Bùi Đức L không có mặt ở nhà, đi đâu không rõ.

Về số ma túy thu giữ trong nhà chị Võ Hoàng Thúy L2:

Vào khoảng 16 giờ 00 phút ngày 22/04/2023, đối tượng G (tên gọi khác là S, không rõ lai lịch) nhắn tin qua tài khoản Telegram của Nguyễn Trọng N tên “Hải Long” nhờ N giữ dùm mấy gói ma túy khay và “nước vui” (ma túy dạng lỏng). N đồng ý. Sau đó, G đặt shipper giao qua cho N 01 hộp giấy được dán kín. N không mở ra xem mà cất giấu trong phòng ngủ của N. Đến khoảng 03 giờ 00 phút ngày 24/04/2023, người yêu của N là Trần Thị Kiều L3 sử dụng ma túy “nước vui” nên N không đồng ý và lấy vỏ của gói ma túy mang đi vứt, nhưng do tò mò nên N uống thử một ít rồi mới vứt đi. Lúc này, N nhớ hộp ma túy mà G nhờ giữ dùm nên mang vào

trong nhà vệ sinh phòng của Nguyễn Thanh T V để mở ra xem (do phòng ngủ của N không có nhà vệ sinh nên dùng chung nhà vệ sinh trong phòng ngủ của V, phòng của V luôn mở cửa để mọi người đi vệ sinh). Nhật thấy trong hộp có các gói nylon chứa ma túy khay và các viên thuốc lắc, do N vừa mới sử dụng ma túy “nước vui” xong có cảm giác sợ hãi nên N ném các gói nylon chứa ma túy qua lỗ thông gió trong nhà vệ sinh sang nhà bên cạnh (nhà chị Võ Hoàng Thúy L2).

Đến khoảng 11 giờ 00 phút cùng ngày, N ngủ dậy đã tỉnh táo, nghĩ đến việc đã vứt ma túy của G, do lo sợ Ghi sẽ bắt đền tiền nên N tìm cách lấy lại số ma túy này. N kể cho V nghe và mượn bóp da màu đen (dạng túi đeo) của V để ném sang nhà bên cạnh để lấy lý do xin vào trong nhà chị Linh mục đ để tìm lại các gói ma túy. N đi xuống gõ cửa nhà chị L2 nhưng không thấy ai trả lời. Sau đó N gọi điện thoại cho Bùi Đức L nhờ L tìm cách giúp. L nói để L về nhà rồi tìm cách sau nhưng không thấy L về. Sau đó N mượn xe gắn máy biển số 68S1-679.57 của L đi công việc sau đó bị Công an đưa về trụ sở làm việc.

- Về số ma túy thu giữ trong ba lô của Nguyễn Thanh Trúc V: Khoảng 10 ngày trước ngày bị bắt (ngày 25/4/2023), có 03 người bạn của Bùi Đức L (02 nam, 01 nữ không rõ lai lịch) đến nhà chơi và có ngủ nhờ tại phòng của V. Những người này rủ V sử dụng ma túy thì V đồng ý, 03 người bạn của L liên hệ xin của đối tượng tên Ghi ma túy để sử dụng. Ghi đặt shipper giao ma túy tới một hộp bánh bên trong có 01 gói ma túy “khay”, 01 gói nylon chứa 02 viên thuốc lắc màu xanh, V là người xuống nhận ma túy. Sau đó V và 03 người bạn của L cùng nhau sử dụng ma túy tại phòng của V, còn L đi về phòng không sử dụng. Sau khi cùng nhau sử dụng ma túy xong, còn dư lại khoảng nửa viên thuốc lắc thì một người nữ trong nhóm cất nửa viên thuốc lắc này vào ba lô của V, nói là cho V để V sử dụng, V chưa kịp sử dụng vẫn cất giấu trong ba lô thì bị kiểm tra bắt quả tang.

- Về số ma túy thu giữ trong phòng của Bùi Thị H2: Bùi Thị H2 và Bùi Đức L sống với nhau như vợ chồng tại phòng ở tầng trệt nhà số A đường N, Phường B, quận B. H2 khai gói ma túy trong két sắt không phải của H2, két sắt chỉ có Hậu và L biết mật khẩu nên H2 nghĩ gói ma túy là của L. Thời điểm Công an kiểm tra thì L không có mặt ở nhà, đi đâu không rõ. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận B đã ra Quyết định truy tìm người số 80 ngày 20/7/2023 đối với L.

- Về sự có mặt của Trần Thị Kiều L3 tại nhà số A N, Phường B, quận B:

Khoảng 02 giờ 00 phút ngày 24/4/2023, L3 đến phòng của Nguyễn Trọng N (là bạn trai của L3) ở tầng 2 nhà số A N, Phường B, quận B. Khi đến L3 có mang theo 01 gói ma túy nước vui, tại phòng của N, L3 lấy gói ma túy ra uống thì Nhật can ngăn không cho tiếp tục sử dụng nữa nhưng sau đó N lại tự ý lén sử dụng số nước vui của L3 uống dở. Việc N khui hộp giấy chứa ma túy và ném qua nhà chị Thúy L2 thì N không nói cho L2 biết.

Ngày 20/11/2013, Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh đã đưa vụ án ra xét xử và tuyên phạt Nguyễn Trọng N 12 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, Nguyễn Thanh T Vân 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (bản án số 175/2023/HSST). Đối với số ma túy (9,9135g loại Ketamine) thu giữ trong phòng của Bùi Thị H2, do chưa làm việc được với Bùi Đức L nên trước đó Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận B đã ra quyết định tách vụ án hình sự, quyết định tách hành vi và tài liệu liên quan trong vụ án hình sự, đồng thời ra Quyết định truy tìm đối với Bùi Đức L, khi nào tìm được sẽ đề nghị xử lý sau.

Ngày 29/12/2023, Bùi Đức L đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận B đầu thú và khai nhận như sau:

Chiều ngày 24/4/2023, L đang uống cà phê ở gần nhà thì nghe những người trong xóm nói Công an đang kiểm tra nhà của L tại số A đường N, Phường B, quận B. Do trước đó L có cất giấu 01 gói ma túy khay ở trong két sắt để trong phòng ngủ của L ở tầng trệt, L lo sợ Công an kiểm tra sẽ phát hiện gói ma túy nên bỏ trốn. Sau này L có nghe nói Công an đang truy tìm L thì L biết việc cất giấu ma túy bị phát hiện, nhưng do vợ L là Bùi Thị H2 đang mang thai gần sinh nên L muốn chờ vợ sinh xong sẽ sắp xếp công việc đến Cơ quan Công an đầu thú.

Về nguồn gốc gói ma túy thu giữ trong phòng của Bùi Thị H2: L khai khoảng giữa tháng 4/2023, đối tượng G (không rõ lai lịch) đến nhà L chơi và có cho L 01 gói nylon chứa tinh thể là ma túy khay. L cất giấu gói ma túy trong két sắt của L để ở phòng ngủ tầng trệt mục đích để sử dụng. Việc L cất giấu ma túy thì không ai biết, L và H2 sống với nhau như vợ chồng, két sắt chỉ có L và H2 biết mật khẩu nhưng H2 không biết việc L cất giấu ma túy trong két sắt.

Đối với Bùi Thị H2 khai nhận không biết L cất giấu gói ma túy trong Thôn két sắt, khi Công an kiểm tra thì H2 tự nguyện bấm mật khẩu mở két sắt thì mới biết trong két sắt có gói ma túy. H2 nghĩ đó là ma túy do L cất giấu vì két sắt chỉ có Hậu và L biết mật khẩu.

Tại bản cáo trạng số 53/CT-VKSBTh ngày 14 tháng 03 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, đã truy tố bị can Bùi Đức L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

2. Tại phiên tòa

Bị cáo Bùi Đức L khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng nêu. Bị cáo thống nhất với tội danh và khung hình phạt như cáo trạng đã nêu, thừa nhận việc truy tố là đúng người, đúng tội, không oan sai.

Sau khi kết thúc phần xét hỏi, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh trình bày bản luận tội giữ nguyên quan điểm như nội dung bản cáo trạng đã truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: tuyên bị cáo Bùi Đức L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”:

Bị cáo phạm tội lần đầu, chưa có tiền án, tiền sự, tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, bị cáo đầu thú, ăn năn hối cãi nên được xem xét tình tiết giảm nhẹ tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.

+ Áp dụng điểm g khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Bùi Đức L từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

+ Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu, tiêu hủy: Tinh thể không màu trong 01 gói nylon được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Bùi Thị H2 và hình dấu Công an P1, quận B được gửi đến giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 9,9135g, loại Ketamine. Mẫu vật còn lại sau khi sử dụng phục vụ giám định: Tinh thể không màu có khối lượng 8,4695g

- 01 xe mô tô biển số 68S1-679.57. Số khung RLHKF4104LZ028705, máy KF41E0075769. Qua xác minh, xe gắn máy trên do Nguyễn Văn K (sinh năm 1979, thường trú: Nhà số G đường S, phường V, Thành phố R, tỉnh Kiên Giang) đứng tên chủ sở hữu. Tháng 02/2022, ông K bán xe trên cho Bùi Đức B (sinh năm 1973, thường trú: Nhà số A N, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh) nhưng không làm thủ tục mua bán sang tên. Sáng ngày 24/4/2023, ông B để xe gắn máy ở nhà thì L lấy xe sử dụng. Trưa ngày 24/4/2023, N mượn xe của L để đi công việc. Sau đó N bị Cơ quan điều tra bắt giữ và thu giữ xe gắn máy nêu trên. Trả lại cho ông Bùi Đức B xe máy trên.

- 01 xe mô tô biển số 85D1-616.86. Số khung: RLHJF9501LY053215, số máy: JF95E0064165. Qua xác minh, xe trên do Võ Thị Lệ H (sinh năm 1997, thường trú: Khu phố I, thị trấn P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận) đứng tên chủ sở hữu. Chị H và chồng là Trần Văn H1 (sinh năm 1997, thường trú: Thôn A, xã B, huyện T, tỉnh Quảng Nam) quản lý và sử dụng xe trên. Giữa tháng 4/2023, anh H1 cho Bùi Đức L mượn xe trên để sử dụng. L để xe gắn máy trên tại nhà số A đường N, Phường B, quận B thì bị kiểm tra thu giữ. Ông H1, bà H có trình bày xin được nhận lại xe. Xét, đây là tài sản của chị H, anh H1 nên trả lại cho chị Võ Thị Lệ H, anh Trần Văn H1.

- Đối với 01 xe mô tô biển số 59S3-310.59. Số khung: RLHKF4103LZ002421, số máy: KF41E0012731. Qua xác minh, xe mô tô trên do Bùi Đức B (sinh năm 1973, thường trú: Nhà số A đường N, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh) đứng tên chủ sở hữu. Ngày 16/4/2023, ông B đưa cho con trai là Bùi Đức L mượn để sử dụng. Sau đó công an kiểm tra nhà số A đường N, Phường B, quận B và thu giữ xe

mô tô nêu trên. Ông B có trình bày xin được nhận lại xe. Xét, đây là tài sản của ông B nên trả lại cho ông Bùi Đức B.

- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 promax màu vàng, sim số 0986956458, đây là tài sản cá nhân của Bùi Thị H2, không được sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội, không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho H2.

[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.

Đối với đối tượng tên G (tên gọi khác là S, không rõ lai lịch) là người cho L ma túy, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận B đang tiến hành xác minh, khi nào làm rõ sẽ đề nghị xử lý sau.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng điểm g khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Bùi Đức L 02 (hai) năm tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Thời hạn tù tính từ ngày 29/12/2023

Áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

2. Về vật chứng:

Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015;

- Tịch thu, tiêu hủy: 01 gói nylon được niêm phong bên ngoài có ghi số vụ “4212(936/23) BThạnh Gói 2” có chữ ký ghi tên Điều tra viên Nguyễn Mạnh C. Bên trong là mẫu vật còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định: Tinh thể không màu có khối lượng 8,4695g.Theo kết luận giám định số 4212/KL-KTHS ngày 02/5/2023 của Phòng K1, Công an Thành phố H)

- Trả lại cho ông Bùi Đức B: 01 xe mô tô biển số 68S1-679.57. Số khung RLHKF4104LZ028705, máy KF41E-0075769, loại xe: hai bánh từ 50-175cm³, nhãn hiệu: HONDA, số loại: AIR BLADE, màu sơn: đỏ bạc dung tích xi lanh: 149 (không kiểm tra tình trạng hoạt động).

- Trả lại cho ông Bùi Đức B: 01 xe mô tô biển số 59S3-310.59. Số khung: RLHKF4103LZ002421, số máy: KF41E-0012731, loại xe: hai bánh từ 50-175cm³, nhãn hiệu: HONDA, số loại: AIR BLADE, màu sơn: đỏ bạc dung tích xi lanh: 149,3(không kiểm tra tình trạng hoạt động).

- Trả lại cho chị Võ Thị Lệ H và anh Trần Văn H1: 01 xe mô tô biển số 85D1-616.86. Số khung: RLHJF9501LY053215, số máy: JF95E-0064165, loại xe: hai bánh từ 50-175cm³, nhãn hiệu HONDA, số loại: JF950 SH125I, màu sơn: Trắng đen, dung tích xi lanh 124.8 (không kiểm tra tình trạng hoạt động).

- Trả lại cho Bùi Thị H2: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 promax màu vàng, sim số 0986956458.

(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 20 tháng 3 năm 2024 giữa Cơ quan điều tra Công an quận B với Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thạnh).

3. Về án phí sơ thẩm:

Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH/ 13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án

Bị cáo Bùi Đức L phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo

Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự 2015;

Bị cáo Bùi Đức L, Những Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND Tp, Hồ Chí Minh;
  • - VKSND Tp. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND quận Bình Thạnh;
  • - Công an quận Bình Thạnh;
  • - Chi cục thi hành án dân sự quận Bình Thạnh;
  • - Sở Tư pháp Tp. Hồ Chí Minh;
  • - Trại giam;
  • - Công an Tp. Hồ Chí Minh-PC06;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ, Văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thanh Tùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Quyết định số 78/2024/HS-ST ngày 13/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số quyết định: 78/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Bùi Đức L bị xử phạt 2 (hai) năm tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger