Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HOẰNG HÓA

TỈNH THANH HÓA

Bản án số: 77/2023/HS-ST

Ngày 26/12/2023

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOẰNG HÓA, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc Vân

Các Hội thẩm nhân dân:

Lê Bỉnh Quyền

Lường Thị Huyền

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thu Hằng – Thư ký TAND huyện Hoằng Hóa.

- Đại diện VKSND huyện Hoằng Hóa tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị H - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 12 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 79/2023/TLST-HS ngày 01 tháng 12 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 113/2023/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:

Lê Văn Q, sinh ngày 07 tháng 7 năm 2001, tại xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.

Nơi cư trú: Thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 08/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn C và bà Lê Thị H1; Vợ con: Chưa có; Tiền sự: Không; Tiền án: 02 tiền án: Ngày 20/8/2020, bị Tòa án nhân dân huyện Hoằng Hóa xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Ngày 23/02/2022, bị Tòa án nhân dân huyện Hoằng Hóa xử phạt 01 năm 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Nhân thân: Ngày 23/4/2019, bị Tòa án nhân dân huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/8/2023, chuyển tạm giam từ ngày 28/8/2023 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện N, có mặt tại phiên tòa.

Bị hại:

  • Ông Lê Văn C1, sinh năm 1960 (Có mặt)
  • Địa chỉ: Thôn H, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
  • Bà Nguyễn Thị H2, sinh năm 1970 (Vắng mặt)
  • Địa chỉ: Thôn A, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.

Người làm chứng: Anh Đinh Văn D, sinh năm 1987 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn E, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 01 giờ ngày 05/8/2023, Lê Văn Q đi bộ từ xã H, sang xã H, huyện H với mục đích trộm cắp tài sản. Khi đi đến nhà ông Lê Văn C1, phát hiện cửa tầng 2 nhà ở không đóng nên Q đã trèo tường rào vào bên trong, bám vào các nẹp chỉ âm tường, trèo lên sảnh tầng hai, sau đó theo lối cầu thang đi xuống tầng một và đi vào phòng ngủ phía Bắc, nơi ông C1 đang nằm ngủ trên giường. Q phát hiện 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A22, màu đen để ở đầu giường nên đã lấy cho vào túi quần. Q tiếp tục mở ngăn kéo của bàn đặt máy vi tính, lấy 01 chiếc ví da bên trong có 4.400.000đ, trong đó có 08 tờ tiền mệnh giá 500.000đ; 02 tờ tiền mệnh giá 100.000đ, 01 tờ tiền mệnh giá 200.000đ và một số giấy tờ tuỳ thân. Sau khi trộm được tài sản, Q đi lên tầng hai, Quốc lấy toàn bộ số tiền trong ví và bỏ ví cùng giấy tờ tuỳ thân lại trên giường ngủ tầng hai và đi ra ngoài. Q tháo sim điện thoại vứt dọc đường, bắt xe đi Hà Nội chơi và bán chiếc điện thoại trên ở cửa hàng điện thoại không nhớ rõ địa chỉ với số tiền 2.200.000đ. Số tiền trộm cắp được và tiền bán điện thoại trộm cắp trên Q đã dùng để tiêu xài cá nhân hết.

Đến khoảng 04 giờ 15 phút ngày 13/8/2023, Q đi bộ từ xã H sang xã H, khi đi qua nhà chị Nguyễn Thị H2, thấy không đóng cửa nên Q nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Q trèo qua tường, đi qua sân nhà rồi vào trong căn phòng ở tầng một. Thấy đầu giường có một chiếc cặp đựng máy tính, Q lấy chiếc cặp rồi theo đường cũ quay ra ngoài. Q kiểm tra thấy trong cặp có 01 chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu Dell Vostro intel Core I5 3500 màu đen và 01 điện thoại di động OPPO A55, R, bộ nhớ 64GB màu đen. Q tháo chiếc sim điện thoại vứt dọc đường và đi về nhà ngủ. Sáng ngày hôm sau, Q gọi taxi và đem tài sản đã trộm cắp được lên thành phố T bán. Q bán chiếc máy tính Dell cho anh Đinh Văn D được 2.680.000đ rồi vứt chiếc cặp đựng máy tính vào thùng rác bên đường. Q bán chiếc điện thoại OPPO A55 tại một cửa hàng điện thoại không nhớ rõ địa chỉ được 1.700.000đ. Số tiền trên Q đã tiêu xài cá nhân hết.

Sau khi phát hiện bị mất tài sản, chị Nguyễn Thị H2 đã đến Công an xã H, ông Lê Văn C1 đến Công an huyện H báo cáo sự việc. Đến 16 giờ 00 phút, ngày 19/8/2023, Lê Văn Q đến Công an huyện H đầu thú khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H đã thu giữ: 01 máy tính xách tay nhãn hiệu Dell Vostro, màu đen, intel Core i5 3500 do anh Đinh Văn D giao nộp.

Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SamSung A22, màu đen của ông Lê Văn C1 và chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A55 màu đen của chị Lê Thị H3, Lê Văn Q không nhớ nơi tiêu thụ, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H đã tiến hành truy tìm nhưng không thu được. Tuy nhiên, quá trình điều tra, các bị hại đã cung cấp được các giấy tờ liên quan đến nguồn gốc của hai chiếc điện thoại nên cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H đã sử dụng để làm căn cứ yêu cầu định giá tài sản theo quy định.

Tại bản kết luận định giá số 34/KL-HĐĐGTS ngày 28/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự huyện H kết luận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A55, R, bộ nhớ 64GB, màu đen có giá trị 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm nghìn đồng);

Tại bản kết luận định giá số 33/KL-HĐĐGTS ngày 28/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự huyện H kết luận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu SamSung A22, màu đen có giá trị 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng).

Tại bản kết luận định giá số 31/KL-HĐĐGTS ngày 28/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự huyện H kết luận: 01 máy tính xách tay nhãn hiệu Dell Vostro, màu đen, intel Core i5 3500 có giá trị 6.000.000 đồng (sáu triệu đồng).

Về vật chứng của vụ án:

02 thẻ sim lắp trong 02 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A55 và S và chiếc cặp đựng máy tính Dell Vostro, Lê Văn Q không nhớ địa điểm cụ thể đã vứt bỏ; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A55; 01 điện thoại di động nhãn hiệu SamSung A22, màu đen bị cáo không nhớ được chính xác địa điểm tiêu thụ. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H đã tiến hành truy tìm nhưng không thu giữ được; 01 máy tính xách tay nhãn hiệu Dell Vostro, màu đen, intel Core i5 3500, Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện H đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là chị Nguyễn Thị H2. Số tiền 4.400.000đ Quốc trộm cắp được của ông Lê Văn C1, đã dùng tiêu xài cá nhận hết, nên không thu giữ được.

Về dân sự: Ông Lê Văn C1 yêu cầu bị cáo bồi thường trị giá chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SamSung A22, màu đen là 3.000.000đ (ba triệu đồng) và số tiền mặt 4.400.000đ (bốn triệu bốn trăm nghìn đồng). Tổng là 7.400.000đ (bảy triệu bốn trăm nghìn đồng); chị Nguyễn Thị H2 yêu cầu bồi thường trị giá điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A55, Ram 4, bộ nhớ 64GB là 2.500.000đ (hai triệu năm trăm nghìn đồng).

Bản cáo trạng số 06/CTr-VKSHH ngày 30/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoằng Hóa truy tố bị cáo Lê Văn Quốc về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Lê Văn Q đã khai nhận toàn bộ hành vi đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận vẫn giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Văn Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Đề nghị áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 36 tháng đến 42 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ; Đề nghị không phạt bổ sung đối với bị cáo; Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường cho ông Lê Văn C1 số tiền 7.400.000đ; bồi thường cho chị Nguyễn Thị H2 số tiền 2.500.000đ.

Về án phí: Đề nghị buộc bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

Bị cáo, bị hại không có tranh luận gì. Tại lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần trách nhiệm hình sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo, bị hại và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi và tội danh: Bị cáo Lê Văn Q có 02 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà để có tiền tiêu xài cá nhân, ngày 05/8/2023 bị cáo đã trộm cắp tài sản của ông Lê Văn C1, đến ngày 13/8/2023, bị cáo lại tiếp tục trộm cắp tài sản của chị Nguyễn Thị H2. Tổng giá trị tài sản bị cáo trộm cắp là 11.500.000 đồng, trong đó, giá trị tài sản bị cáo thực hiện trộm cắp mỗi lần đều trên 2.000.000đ. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự như Viện kiểm sát đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân, xâm phạm trật tự, an toàn xã hội nên cần phải xử lý nghiêm, buộc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

[3]. Xét các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự :

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình, sau khi phạm tội, bị cáo đã ra đầu thú nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS, vì vậy cần giảm cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là lao động tự do, nghề nghiệp và thu nhập không ổn định, nên không phạt bổ sung đối với bị cáo.

[4]. Về trách nhiệm dân sự: Do người bị hại chưa được nhận lại tài sản, có yêu cầu bị cáo bồi thường nên bị cáo phải bồi thường cho ông Lê Văn C1 tổng giá trị tài sản bị trộm cắp là 7.400.000đ; bồi thường cho chị Nguyễn Thị H2 số tiền 2.500.000đ.

[7]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 48 của Bộ luật hình sự; Điều 584, 585, 586, 589 Bộ Luật Dân sự; Điều 135; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án

Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử: Phạt bị cáo Lê Văn Q 36 (ba sáu) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ (ngày 19/8/2023)

Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường cho ông Lê Văn C1 tổng số tiền là 7.400.000đ (bảy triệu bốn trăm nghìn đồng); bồi thường cho chị Nguyễn Thị H2 số tiền 2.500.000đ (hai triệu năm trăm nghìn đồng).

Về án phí: Buộc bị cáo Lê Văn Q phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 495.000đ (Bốn trăm chín lăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo, bị hại ông Lê Văn C1 có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại chị Nguyễn Thị H2 có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Hoằng Hóa;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - TAND tỉnh Thanh Hóa;
  • - Chi cục THADS huyện Hoằng Hóa;
  • - Cơ quan THA hình sự huyện Hoằng Hóa.
  • - Công an huyện Hoằng Hóa;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Thanh Hóa
  • - Bị cáo; Bị hại;
  • - UBND xã Hoằng Châu;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Ngọc Vân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Quyết định số 77/2023/HS-ST ngày 26/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOẰNG HÓA, TỈNH THANH HÓA về trộm cắp tài sản

  • Số quyết định: 77/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOẰNG HÓA, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Văn Q bị truy tố, xét xử và tuyên bố phạm tội "Trộm cắp tài sản"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger