|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 77/2024/HNGĐ
Ngày: 13/9/2024
V/v: "Ly hôn,
tranh chấp nuôi con khi ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: | Bà Nguyễn Thị Nga |
| Các Hội thẩm nhân dân: | 1. Ông Nguyễn Đình Vụ |
| 2. Bà Nguyễn Thị Thanh Thủy |
Thư ký phiên tòa: Ông Trần Đình Tú - Thư ký TAND TP. Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa
Đại diện VKSND TP. tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Thu L - Kiểm sát viên
Ngày 13 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân Thành phố Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 349/2024/TLST - HNGĐ ngày 05 tháng 8 năm 2024 về việc về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo “Quyết định đưa vụ án ra xét xử” số 253/2024/QĐXX-HNGĐ ngày 28 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị Vân A, sinh năm 1991. (Vắng mặt)
- Nơi thường trú: SN 17/20/355 N, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.
- Bị đơn: Anh Hồ Phương N, sinh năm 1987. (Vắng mặt)
- Nơi thường trú: SN 157 P, phường P, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.
- Hiện đang chấp hành án tại: Đ, P, Trại giam T1, Cục C10 Bộ công an
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án, chị Hoàng Thị Vân A trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh Hồ Phương N tự nguyện kết hôn đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường P, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa ngày 25/10/2011. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống do anh N ham chơi bời, nghiện ma túy. Tháng 7/2023 anh N bị kết án 2 năm 3 tháng tù và hiện đang chấp hành án tại Trại giam T1- Cục C- Bộ C1.
Nay chị xác định vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị xin được ly hôn anh N; Về con chung: Vợ
chồng có 01 con chung là Hồ Thị Thùy T, sinh ngày 28/6/2012, lâu nay con ở với chị. Nay ly hôn chị xin được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung và nợ chung: Chị Vân A không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về phía anh Hồ Phương N: Tại bản tự khai ngày 21/8/2024 anh N khai thống nhất với chị Vân A về thời gian và điều kiện kết hôn. Về mâu thuẫn vợ chồng anh xác định nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống và lối sống hàng ngày. Do mâu thuẫn trầm trọng nên chị Vân A đã về nhà mẹ đẻ sinh sống, vợ chồng ly thân từ năm 2012 đến nay. Vì vậy nay chị Vân A yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn anh cũng đồng ý, đề nghị Tòa án giải quyết cho anh và chị Vân A ly hôn; Về con chung anh N thống nhất như lời khai và ý kiến của chị Vân A; A đồng ý giao con chung của anh chị là Hồ Thị Thùy T cho chị Vân A trực tiếp nuôi dưỡng, anh không phải cấp dưỡng nuôi con vì hiện tại anh đang chấp hành án phạt tù; Về tài sản và nợ chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai ngày 14/8/2024 cháu Hồ Thị Thùy T có nguyện vọng xin được ở với mẹ nếu bố mẹ ly hôn.
Ngày 09/9/2024 Tòa án tiến hành xác minh tại địa phương (phường P, TP.), kết quả xác định: Chị Vân A và anh N có đăng ký kết hôn tại UBND phường P, TP .. Quá trình chung sống anh chị mâu thuẫn, và chị Vân A đã bỏ về ở cùng mẹ đẻ tại phường Đ, TP T; Anh chị có một con chung lâu nay ở với chị Vân A; Về tài sản chung nợ chung của anh chị địa phương không rõ; Yêu cầu của anh chị đề nghị Tòa án căn cứ pháp luật để giải quyết.
Ngày 21/8/2024 Tòa án mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh N đề nghị không hòa giải. Vì vậy Tòa án không tiến hành hòa giải được.
Ngày 28/8/2024, Tòa án nhân dân TP. Thanh Hóa có Quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định đã được tống đạt hợp lệ cho chị Vân A và anh N.
Tại phiên tòa hôm nay, anh N và chị Vân A vắng mặt và đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Ý kiến của đại diện VKS: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, thư ký và HĐXX, việc chấp hành pháp luật của chị Vân A và anh N kể từ khi toà án thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm HĐXX nghị án đã tuân thủ đúng quy định. Tại phiên tòa hôm nay, chị Vân A và anh N đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt vắng mặt đề nghị HĐXX căn cứ Điều 227 - BLTTDS để xét xử vắng mặt chị Vân A và anh N; Về nội dung: Đại diện VKS đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn; Án phí: chị Vân A phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được kiểm tra, xem xét tại phiên toà; Kết quả tranh tụng tại phiên tòa; Ý kiến của người tham gia tố tụng, Hội đồng
xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Chị Hoàng Thị Vân A khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp về ly hôn, nuôi con khi ly hôn; Nơi cư trú của bị đơn tại thành phố T, do đó Tòa án nhân dân TP. thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 28, Điều 35, Điều 39 - Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa hôm nay chị Vân A và anh N đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, HĐXX căn cứ Điều 227 - BLTTDS để xét xử vắng mặt anh chị.
[2] Về nội dung:
Về hôn nhân: Chị Hoàng Thị Vân A và anh Hồ Phương N tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường P, TP., tỉnh Thanh Hóa ngày 25/10/2011 như vậy là hôn nhân hợp pháp
Quá trình chung sống, anh chị phát sinh mâu thuẫn và ngày càng trầm trọng nên đã sống ly thân từ năm 2012, chấm dứt quan hệ về tình cảm và kinh tế. Đến nay chị Vân A xác định: Mâu thuẫn giữa chị và anh N không thể khắc phục được, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị ly hôn anh N. Về phía anh N cũng xác định vợ chồng mâu thuẫn và sống ly thân đã lâu nên anh đồng ý ly hôn. Tại phiên hòa giải, do anh N đề nghị không hòa giải nên Tòa án không tiến hành hòa giải được. Trong đơn đề nghị xét xử vắng mặt anh chị giữ nguyên quan điểm như đã trình bày trên
Xét mâu thuẫn giữa chị Vân A và anh N đã thực sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Yêu cầu ly hôn của chị Vân A là có cơ sở và tự nguyện, HĐXX căn cứ quy định tại khoản 1 điều 56 - Luật HN&GĐ chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Vân A.
Về con chung: Chị Vân A và anh N có 01 con chung là Hồ Thị Thùy T, sinh ngày 28/6/2012. Nguyện vọng của chị Vân A là được trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn và không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con. Anh N cũng đồng ý.
Xét nguyện vọng của chị Vân A là chính đáng, đảm bảo tốt nhất quyền lợi của con, phù hợp với nguyện vọng của con và quy định tại Điều 81,82 - Luật Hôn nhân và Gia đình nên HĐXX chấp nhận
Về tài sản chung, nợ chung: Chị Vân A và anh N đều không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xét.
Về án phí: Chị Hoàng Thị Vân A là nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại Điều 6; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết 326/2016/ UBTVQH14 quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án.
Các đương sự có quyền kháng cáo theo luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình
Điều 6; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu của chị Hoàng Thị Vân A
Về hôn nhân: Xử cho chị Hoàng Thị Vân A và anh Hồ Phương N ly hôn nhau
Về con chung: Giao Hồ Thị Thùy T, sinh ngày 08/6/2012 (là con chung của chị Vân A và anh N) cho chị Hoàng Thị Vân A trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Hồ Phương N không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị Vân A
Anh Hồ Phương N có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí: Chị Hoàng Thị Vân A phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ đã nộp theo biên lai thu tiền số 0001577 ngày 02/8/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Chị Vân A đã nộp đủ án phí.
Về quyền kháng cáo: Chị Hoàng Thị Vân A và anh Hồ Phương N có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7,9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Nguyễn Thị Nga |
Quyết định số 77/2024/HNGĐ ngày 13/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Số quyết định: 77/2024/HNGĐ
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hoàng Thị Vân A- Hồ Phương N Ly hôn
