Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số:76/2024/QÐST- HNGĐ

Hải Dương, ngày 29 tháng 8 năm 2024

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn và thỏa thuận nuôi con khi ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền

Thư ký phiên họp: Bà Lê Thị Thúy Hà - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương: Ông Nguyễn Văn Tưởng - Kiểm sát viên, tham gia phiên họp.

Ngày 29 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 404/2024/TLST-HNGĐ ngày 30/7/2024, về việc “Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn và thỏa thuận nuôi con khi ly hôn ", theo Quyết định mở phiên họp số 449/2024/QĐMPH-HNGĐ ngày 19/8/2024, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

* Người yêu cầu:

  1. Anh Phạm Xuân T, sinh năm 1982.
  2. Địa chỉ: Thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương.

  3. Chị Nguyễn Thùy D, sinh năm 1989.
  4. Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương.

    Hiện đang ở: Nhật Bản.

    Người được chị D ủy quyền giao nhận văn bản tố tụng: Anh Vũ Trọng B, sinh năm 2001.

    Địa chỉ: Số C, Đỗ Q, T, Cầu G, thành phố Hà Nội.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.

Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1966.

Địa chỉ: Thôn A, xã Q, huyện Đ, tỉnh Quảng Ninh.

(Chị D, anh T, ông S đều có quan điểm đề nghị giải quyết vắng mặt).

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

- Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai của chị Nguyễn Thị D1 và anh Phạm Xuân T cùng các tài liệu có trong hồ sơ thể hiện :

Về quan hệ vợ chồng: Anh T và chị D1 tự do tìm hiểu có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương ngày 09/02/2010. Sau ngày cưới vợ chồng sống hòa thuận, hạnh phúc. Năm 2019 chị D1 sang Nhật Bản lao động, từ khi đi chị D1 có về Việt Nam một lần vào năm 2021, do vợ chồng sống xa nhau dẫn đến bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung. Nay anh T và chị D1 đều xác định tình cảm vợ chồng không còn, anh T, chị D1 đều có đơn xin ly hôn, đề nghị Tòa án công nhận thuận tình ly hôn cho anh chị.

Về quan hệ con chung: Chị D1, anh T có 2 con chung là Phạm Xuân T1, sinh ngày 27/8/2010 và Phạm Thị Thanh H, sinh ngày 04/01/2016. Hiện nay cháu T1 đang ở cùng anh T, cháu H ở cùng ông ngoại là Nguyễn Văn S. Ly hôn chị D1, anh T thỏa thuận chị D1 nuôi hai con, anh T không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Trong thời gian chị D1 ở nước ngoài, chị D1 ủy quyền cho ông S chăm sóc, nuôi dưỡng cháu T1 và cháu H.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị D1 và anh T tự thỏa thuận, ly hôn anh chị không đề nghị Tòa án giải quyết.

Về lệ phí: Chị D1 tự nguyện chịu toàn bộ lệ phí giải quyết việc dân sự.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn S trình bày: ông là bố đẻ chị D1, cháu Phạm Xuân T1 và cháu Phạm Thị Thanh H hiện đang ở với ông. Ông đồng ý nhận ủy quyền của chị D1 chăm sóc, nuôi dưỡng cháu T1 và cháu H trong thời gian chị D1 không ở Việt Nam. Ông S đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt.

- Cháu Phạm Xuân T1 và cháu Phạm Thị Thanh H là con chung của anh T, chị D1 có nguyện vọng được ở với mẹ khi bố mẹ ly hôn.

Do điều kiện công việc nên chị D1 không thể về Việt Nam, chị D1 ủy quyền cho anh Vũ Trọng B giao nhận các văn bản của Tòa án, anh B đã thông tin cho chị D1 biết, chị D1 vẫn giữ nguyên quan điểm như đã trình bày.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương phát biểu quan điểm: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, thư ký và các đương sự đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về đường lối giải quyết vụ việc: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ cho thấy mâu thuẫn giữa chị Nguyễn Thùy D và anh Phạm Xuân T đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn của chị D và anh T. Về con chung: Giao cháu Phạm Xuân T1, sinh ngày 27/8/2010 và cháu Phạm Thị Thanh H, sinh ngày 04/01/2016 cho chị Nguyễn Thùy D chăm sóc, nuôi dưỡng. Trong thời gian chị D không ở Việt Nam, tạm giao cháu T1, cháu H cho ông Nguyễn Văn S chăm sóc, nuôi dưỡng. Chấp nhận sự tự nguyện của chị Nguyễn Thùy D không yêu cầu anh Phạm Xuân T cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Chị D chịu toàn bộ lệ phí giải quyết việc dân sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tại phiên họp, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương nhận định:

[1]. Về tố tụng: Chị Nguyễn Thùy D và anh Phạm Xuân T đều có hộ khẩu thường trú tai: Thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương. Hiện chị D đang sinh sống và làm việc tại Nhật Bản, do vậy vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.

Tài liệu chị D gửi về Việt Nam gồm: Đơn khởi kiện, bản tự khai, giấy ủy quyền đã được chứng thực của Tổng lãnh sự quán nước C tại O, Nhật Bản. Do vậy, có đủ cơ sở xác định nội dung các văn bản chị D gửi về là đúng ý chí của chị.

Chị D ủy quyền cho ông Nguyễn Văn S chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Phạm Xuân T1 và cháu Phạm Thị Thanh H trong thời gian chị không ở Việt Nam, nên Tòa án xác định ông S là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.

Chị D, anh T, ông S đều có quan điểm đề nghị giải quyết vắng mặt, nên căn cứ Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án quyết định mở phiên họp vắng mặt các đương sự.

[2]. Về nội dung:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thùy D và anh Phạm Xuân T được tự do tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân T, huyện T, tỉnh Hải Dương ngày 09/02/2010, do vậy hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Vợ chồng sống hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2019 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng mỗi người sống một nơi, hai bên bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung. Nay chị D và anh T đều xác định tình cảm vợ chồng không còn, anh T và chị D đều có đơn xin ly hôn. Xét thấy mâu thuẫn giữa chị D và anh T đã trầm trọng và kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh chị.

- Về con chung: Chị Nguyễn Thùy D và anh Phạm Xuân T có hai con chung là Phạm Xuân T1, sinh ngày 27/8/2010 và Phạm Thị Thanh H, sinh ngày 04/01/2016. Ly hôn chị D, anh T thỏa thuận, chị D là người trực tiếp nuôi hai con. Xét thấy, thực tế mặc dù anh T ở Việt Nam nhưng anh thường xuyên vắng nhà. Chị D hiện ở Nhật Bản nhưng đủ điều kiện kinh tế để nuôi dưỡng con chung. Cháu T1 và cháu H đều có nguyện vọng được ở với mẹ khi bố mẹ ly hôn. Do vậy cần chấp nhận sự thỏa thuận của anh T và chị D tiếp tục giao cháu T1, cháu H cho chị D chăm sóc, nuôi dưỡng. Trong thời gian chị D không ở Việt Nam, tạm giao cháu T1, cháu H cho ông Nguyễn Văn S chăm sóc, nuôi dưỡng. Chấp nhận sự tự nguyện của chị D không yêu cầu anh T cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

- Về tài sản chung, nợ chung: Do chị D và anh T tự thỏa thuận, không đề nghị giải quyết nên Tòa án không xem xét.

[3]. Về lệ phí: Chấp nhận sự tự nguyện của chị Nguyễn Thùy D chịu toàn bộ lệ phí giải quyết việc dân sự.

Vì những lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 55, Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 2 Điều 29, điểm b khoản 1 Điều 37, Điều 149 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thùy D và anh Phạm Xuân T.
  2. Về con chung: Công nhận sự thỏa thuận của chị Nguyễn Thùy D và anh Phạm Xuân T, giao cháu Phạm Xuân T1, sinh ngày 27/8/2010 và Phạm Thị Thanh H, sinh ngày 04/01/2016 cho chị Nguyễn Thùy D nuôi dưỡng cho đến khi con chung tròn 18 tuổi. Chấp nhận sự tự nguyện chị D không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con chung.
  3. Trong thời gian chị D không ở Việt Nam, tạm giao cháu T1, cháu H cho ông Nguyễn Văn S chăm sóc, nuôi dưỡng.

    Anh Phạm Xuân T được quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở.

  4. Về lệ phí: Chị Nguyễn Thùy D tự nguyện chịu cả 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) lệ phí giải quyết việc dân sự, được đối trừ số tiền tạm ứng lệ phí 300.000đ theo biên lai thu số 0000896 ngày 30 tháng 7 năm 2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương. Chị D đã nộp đủ lệ phí.
  5. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Hải Dương;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã Tân Việt;
  • - Cục THADS tỉnh Hải Dương;
  • - Lưu hồ sơ.

Thẩm phán – Chủ tọa phiên họp

Nguyễn Thị Thu Hiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Quyết định số 76/2024/QÐST- HNGĐ ngày 29/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn và thỏa thuận nuôi con khi ly hôn

  • Số quyết định: 76/2024/QÐST- HNGĐ
  • Quan hệ pháp luật: Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn và thỏa thuận nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger