Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Số: 750/QĐ-TA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Thành phố Thủ Đức, ngày 22 tháng 10 năm 2024

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. THỦ ĐỨC, TP .

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

  1. Thẩm phán: Ông Lê Công T
  2. Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Hồng Ngự

Ngày 22/10/2024, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức; mở phiên họp trực tuyến sơ thẩm công khai; để giải quyết hồ sơ thụ lý số 734/2024/TBTL-HC ngày 09/10/2024 về việc “Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” theo quyết định mở phiên họp số 625/QĐ-TA ngày 14/10/2024 đối với:

Họ và tên: Ông Trần Thanh D; giới tính: Nam

Sinh năm: 1987

Dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không

Hộ khẩu thường trú: 35/5/22 V, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh

Chỗ ở: Không nơi cư trú ổn định

Nghề nghiệp: Không có

Tiền án: 02; tiền sự: 03

Con ông: Trần Văn T1 (đã chết) và bà: Hoàng Thị B (đã chết)

(Ông Trần Thanh D có mặt tại phiên họp)

Có sự tham gia của:

  1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Lý Hồ Nhựt H – Chức vụ: Chuyên viên Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố T (có mặt)
  2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên họp: Ông Hoàng Hải – Kiểm sát viên (có mặt).

NHẬN THẤY:

Ngày 28/7/2024, Công an phường T, thành phố T kiểm tra phát hiện người bị đề nghị có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Căn cứ vào biên bản xét nghiệm chất ma tuý của Trạm y tế phường T, thành phố T đối với người bị đề nghị là nghiện ma túy Met. Ngày 29/7/2024, Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường T, thành phố T ban hành quyết định đưa người bị đề nghị vào Cơ sở cai nghiện ma túy Thanh thiếu niên 2 để quản lý trong thời gian lập hồ sơ đề nghị Tòa án xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Ngày 03/10/2024, Phòng Lao động - thương binh và Xã hội thành phố T (viết tắt là Phòng lao động) có văn bản số 722/ĐN-CNBB đề nghị Tòa án xem xét, áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người bị đề nghị; tại cơ sở cai nghiện ma túy P, thời gian cai nghiện bắt buộc là từ 21 đến 24 tháng.

Tại phiên họp hôm nay: Đại diện Phòng lao động giữ nguyên ý kiến đã đề nghị Người bị đề nghị thống nhất với đề nghị của Phòng lao động.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên họp phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính của Thẩm phán, Thư ký Tòa án kể từ khi thụ lý vụ việc cho đến thời điểm mở phiên họp đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính và Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Cơ quan đề nghị, người bị đề nghị đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo luật định. Thống nhất với đề nghị của Phòng lao động.

XÉT THẤY:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ việc đã được thẩm tra tại phiên họp; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, có cơ sở xác định:

Người bị đề nghị đã có hành vi vi phạm hành chính do sử dụng trái phép chất ma túy, đã bị Công an phường T, thành phố T phát hiện vào ngày 28/7/2024. Căn cứ vào biên bản xét nghiệm chất ma tuý của Trạm y tế phường T, thành phố T xác định người bị đề nghị là nghiện ma túy Met.

Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người bị đề nghị đã được cơ quan chức năng thực hiện đúng trình tự thủ tục theo quy định tại các Điều 103; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính và Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật phòng, chống ma túy.

Người bị đề nghị thừa nhận hành vi sử dụng ma túy là phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ, về độ tuổi, tình trạng cư trú của người bị đề nghị, có đủ cơ sở pháp lý kết luận người bị đề nghị đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và không có nơi cư trú ổn định, theo quy định tại khoản 1 Điều 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính. Do vậy, Phòng lao động, đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người bị đề nghị là có cơ sở chấp nhận.

Hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của người bị đề nghị không những đã ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của bản thân, mà còn vi phạm trật tự, an toàn xã hội, nghiện ma túy là nguyên nhân của nhiều loại tội phạm và tệ nạn xã hội khác. Vì vậy, cần áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa người bị đề nghị vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời gian thích hợp để người bị đề nghị được đi cai nghiện, chữa bệnh, học tập, tái hòa nhập cộng đồng trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội.

Trong quá trình bị cơ quan chức năng phát hiện sử dụng ma túy, người bị đề nghị đã tự nguyện khai báo; tuy nhiên về nhân thân người bị đề nghị có 02 tiền án, 03 tiền sự là có nhân thân xấu, nên cần thời gian áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người bị đề nghị.

Vì các lẽ trên,

Căn cứ:

Điểm c khoản 2 Điều 3; điểm d khoản 2 Điều 6; Điều 95; Điều 96; Điều 103; Điều 104; Điều 105; Điều 106 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 được sửa đổi bổ sung năm 2020

Nghị định số 116/2021/NĐ- CP ngày 21/12/2021 của Chính Phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật phòng, chóng ma túy; Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện và quản lý sau cai nghiện ma túy.

Điều 2, Điều 3, Điều 21, điều 22, Điều 23, Điều 30, Điều 31, Điều 32, điều 33, Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Trần Thanh D tại Cơ sở cai nghiện ma túy P.
  2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 tháng, kể từ ngày 28/7/2024. Trong thời gian chấp hành cai nghiện, trường hợp có thay đổi cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm thông báo cho cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan biết.
  3. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị: Người bị đề nghị có quyền khiếu nại quyết định này trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc, kể từ ngày công bố quyết định của Tòa án; Phòng Lao động - thương binh và Xã hội thành phố T có quyền kiến nghị; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc kể từ ngày công bố quyết định.
  4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
  5. Cơ quan thi hành quyết định: Cơ sở cai nghiện ma túy P (Trực thuộc Sở Lao động - thương binh và Xã hội Thành phố H)./.

Nơi nhận:

  • - Người bị áp dụng;
  • - Viện kiểm sát nhân dân TP. Thủ Đức;
  • - Phòng Lao động – thương binh và Xã hội TP. Thủ Đức;
  • - Cơ sở cai nghiện ma túy Thanh thiếu niên 2;
  • - Cơ sở cai nghiện ma túy Phú Đức;
  • - Lưu: Hồ sơ, Vp.

THẨM PHÁN

Lê Công Tình

THÔNG TIN BẢN ÁN

Quyết định số 750/QĐ-TA ngày 22/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC về áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

  • Số quyết định: 750/QĐ-TA
  • Quan hệ pháp luật: Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/10/2024
  • Loại vụ/việc: Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Trần Thanh Dũng tại Cơ sở cai nghiện ma túy Phú Đức. 2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 tháng, kể từ ngày 28/7/2024. Trong thời gian chấp hành cai nghiện, trường hợp có thay đổi cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm thông báo cho cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan biết. 3. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị: Người bị đề nghị có quyền khiếu nại quyết định này trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc, kể từ ngày công bố quyết định của Tòa án; Phòng Lao động – thương binh và Xã hội thành phố Thủ Đức có quyền kiến nghị; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc kể từ ngày công bố quyết định. 4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị. 5. Cơ quan thi hành quyết định: Cơ sở cai nghiện ma túy Phú Đức (Trực thuộc Sở Lao động – thương binh và Xã hội Thành phố Hồ Chí Minh)./.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger