Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BÌNH CHÁNH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 75/2025/DS-ST

Ngày: 06/02/2025

V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Lưới.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Trương Thị Kim Chọn
  2. Bà Hoàng Thị Vân

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Thanh Bình - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Thái - Kiểm sát viên

Ngày 06 tháng 02 năm 2025 tại Phòng xử án của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 793/2024/TLST-DS ngày 14 tháng 10 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm 1041/2024/QĐXXST-DS ngày 18/12/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 23/2025/QĐST-DS ngày 09/01/2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Quỹ trợ vốn xã viên hợp tác xã Thành phố H
  2. Địa chỉ: 5 B, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Ngọc H – Giám đốc

    Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Quang C – Phó Chi nhánh Bình Chánh

    Địa chỉ: 463 Nguyễn Hữu Trí, thị trấn Tân Túc, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh, (văn bản ủy quyền lập ngày 06/03/2024). (có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt).

  3. Bị đơn: Bà Võ Thị Ngọc L, sinh năm: 1966, (vắng mặt).
  4. Địa chỉ: B ấp B, xã Đ, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.

  5. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Võ Phương D, sinh năm: 1996, (vắng mặt).

    Địa chỉ: B ấp B, xã Đ, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 09/07/2024, bản tự khai ngày 02/12/2024, đại diện của nguyên đơn ông Nguyễn Quang C trình bày:

Ngày 02/03/2020, Quỹ trợ vốn xã viên – Hợp tác xã Thành phố H (gọi tắt là Q1) – Chi nhánh B đã ký hợp đồng liên kết số 043/2020/HĐLK-BC với Tổ hợp tác ấp 2C xã Đ, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh để làm Cấp liên nhiệm cho Quỹ trợ vốn xã viên – Hợp tác xã – Chi nhánh B. Mục đích là hỗ trợ vốn cho các hộ dân thuộc Tổ hợp tác ấp B xã Đ, huyện B để chăn nuôi, sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, mua bán nhỏ,... theo sự giới thiệu và đề nghị của C1 liên nhiệm. Thông qua Hợp đồng liên kết, Quỹ CCM – Chi nhánh B đã tiến hành trợ vốn cho 44 thành viên vào ngày 22/09/2022, phương thức trợ vốn: góp hàng tháng, thời hạn trợ vốn: 12 tháng, phí trợ vốn: 0,6%/tháng (phí này dùng trang trải chi phí hoạt động nội bộ của Quỹ CCM), phí hoa hồng cho Cấp liên nhiệm: 0,15/tháng (phí này để Cấp liên nhiệm trang trải các chi phí phục vụ cho quá trình thu hồi vốn phí, tiết kiệm cho Quỹ CCM), tiết kiệm bắt buộc là: 1,0%/tháng (khoản tiết kiệm này được hoàn trả cho thành viên xin trợ vốn khi hoàn tất hợp đồng vay vốn và Quỹ CCM không trả lãi tiết kiệm trên số dư tiết kiệm này).

Trong đợt trợ vốn ngày 22/09/2022, bà Võ Thị Ngọc L đã làm đơn xin trợ vốn và được duyệt trợ vốn số tiền 25.000.000 đồng (hai mươi lăm triệu đồng). Theo kế hoạch thì bà L phải góp mỗi tháng là 2.600.000 đồng trong 11 tháng đầu, tháng cuối góp 1.650.000 đồng và góp đều cho đến ngày hết hạn hợp đồng là ngày 22/09/2023.

Sau khi nhận trợ vốn từ Quỹ CCM, bà L đã trả được cho Quỹ CCM tổng cộng số tiền là 7.800.000 đồng, sau đó không thực hiện đúng nghĩa vụ hoàn trả vốn, phí theo kế hoạch ban đầu. Mặc dù Quỹ CCM đã nhiều lần liên hệ bà Võ Thị Ngọc L để yêu cầu hoàn trả vốn, phí cho Quỹ CCM nhưng bà L trốn tránh, không có thiện chí hoàn trả vốn, phí cho Quỹ CCM. Vì vậy, Quỹ trợ vốn Xã viên – Hợp tác xã Thành phố H khởi kiện yêu cầu bà Võ Thị Ngọc L có trách nhiệm hoàn trả toàn bộ số tiền nợ cho Quỹ trợ vốn Xã viên – Hợp tác xã Thành phố H với tổng số tiền tính đến ngày 06/02/2025 là 21.237.100 đồng (hai mươi mốt triệu hai trăm ba mươi bảy ngàn một trăm đồng), trong đó bao gồm tiền vốn: 17.764.000 đồng, phí trợ vốn (lãi): 3.137.100 đồng, phí trả cấp liên nhiệm: 336.000 đồng và khoản lãi phát sinh sẽ tính đến thời điểm bà Võ Thị Ngọc L thanh toán xong nợ. Ông chỉ yêu cầu cá nhân bà Võ Thị Ngọc L trả nợ không yêu cầu ông Võ Duy P trả nợ. Ông Nguyễn Quang C có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt.

Tại bản tự khai ngày 20/11/2024, bị đơn bà Võ Thị Ngọc L trình bày:

Bà xác nhận số tiền nợ của bà đối với Quỹ CCM là 19.450.000 đồng (tạm tính đến thời điểm hiện tại), bà đồng ý trả số tiền này theo cách thức trả dần mỗi tháng trả một triệu đồng.

Bà Võ Thị Ngọc L, ông Võ Phương D mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng nhưng vắng mặt không có lý do nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

[1.1] Quỹ trợ vốn xã viên hợp tác xã Thành phố H khởi kiện tranh chấp hợp đồng vay tài sản với bà Võ Thị Ngọc L. Đây là tranh chấp về hợp đồng nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[1.2] Bị đơn cư trú tại địa bàn huyện B, nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh.

[2] Về việc xét xử vắng mặt đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Quang C có đơn yêu cầu vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông C theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[3] Về việc xét xử vắng mặt bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Võ Thị Ngọc L, ông Võ Phương D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

[4] Về áp dụng pháp luật: Do giao dịch dân sự giữa Quỹ CCM và bà Võ Thị Ngọc L được thực hiện vào năm 2022 nên áp dụng Bộ luật dân sự năm 2015 để giải quyết.

[5] Về yêu cầu của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy như sau:

[6] Căn cứ Đơn xin trợ vốn ngày 14/09/2022 của bà Võ Thị Ngọc L; Danh sách đề nghị trợ vốn của xã viên, người lao động trong THT, HTX ngày 21/09/2022 của cấp liên nhiệm; Danh sách nhận trợ vốn kiêm biên bản bàn giao vốn ngày 22/09/2022 của Quỹ CCM, lời khai của đại diện nguyên đơn, lời khai của bị đơn và các tài liệu có trong hồ sơ thì đủ cơ sở xác định bà Võ Thị Ngọc L có vay của Quỹ CCM số tiền 25.000.000 đồng, phí trợ vốn 0,6%/tháng, phí CLN 0,15%/tháng, tiết kiệm 1,00%/tháng, thời hạn 12 tháng, phương pháp tính phí: theo phương pháp góp, trả vốn và phí mỗi tháng một lần. Theo thỏa thuận thì bà Võ Thị Ngọc L có trách nhiệm phải góp mỗi tháng là 2.600.000 đồng trong 11 tháng đầu, tháng cuối góp 1.650.000 đồng và góp đều cho đến ngày hết hạn hợp đồng là ngày 22/09/2023.

[7] Sau khi nhận vốn từ Quỹ CCM, bà Võ Thị Ngọc L đã trả được số tiền vốn là 7.236.000 đồng, phí trợ vốn: 450.000 đồng, phí trả cấp liên nhiệm: 114.000 đồng, tổng cộng: 7.800.000 đồng thì ngưng không trả nữa. Mặc dù Quỹ CCM đã nhiều lần liên hệ bà Võ Thị Ngọc L để yêu cầu hoàn trả vốn, phí cho Quỹ CCM nhưng bà L trốn tránh, không có thiện chí hoàn trả.

[8] Do hợp đồng vay giữa hai bên được xác lập là hợp đồng vay có kỳ hạn và có lãi suất nên theo quy định tại Điều 463, Điều 466, Điều 468, Điều 470 Bộ luật dân sự năm 2015, Quỹ CCM có quyền yêu cầu bà L trả nợ khi đã quá hạn trả nợ mà hai bên thỏa thuận và phía bà L có nghĩa vụ trả nợ gốc cho Q CCM khi đến hạn và lãi suất theo quy định tại Điều 357, khoản 5 Điều 466 Bộ luật dân sự 2015, Điều 5 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

[9] Quỹ CCM chỉ yêu cầu bà L trả tiền phí trợ vốn 0,6%/tháng, phí CLN 0,15%/tháng thấp hơn lãi suất theo quy định tại khoản 5 Điều 466, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015. Hai bên không có thỏa thuận về mức lãi suất nợ quá hạn và đại diện của nguyên đơn không có yêu cầu tính lãi nợ quá hạn là phù hợp với Điều 2, Điều 3 của Điều lệ tổ chức và hoạt động Quỹ CCM nên yêu cầu tính phí của Quỹ CCM được chấp nhận.

[10] Tại đơn khởi kiện ngày 09/07/2024 thì nguyên đơn có yêu cầu ông Võ Phương D là con bà Võ Thị Ngọc L trả nợ thay cho bà L nếu bà L không có khả năng trả nợ. Tuy nhiên theo bản tự khai ngày 06/02/2025, ông Nguyễn Quang C chỉ yêu cầu cá nhân bà Võ Thị Ngọc L trả nợ vì Quỹ CCM chỉ cho cá nhân bà L vay và bà L ký nhận tiền nên không yêu cầu ông Võ Phương D trả thay. Do đó, Tòa án không buộc ông Võ Phương D trả nợ là phù hợp với Điều 335, 336 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về biện pháp đảm bảo bằng bảo lãnh.

[11] Từ những lý lẽ đã viện dẫn; Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Quỹ CCM và buộc bà Võ Thị Ngọc L có trách nhiệm trả cho Q CCM tổng số tiền tính đến ngày 06/02/2025 là 21.273.100 đồng (hai mươi mốt triệu hai trăm ba mươi bảy ngàn một trăm đồng), trong đó bao gồm tiền vốn: 17.764.000 đồng, phí trợ vốn (lãi): 3.137.100 đồng, phí trả cấp liên nhiệm: 336.000 đồng.

[12] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch trên số tiền phải trả theo quy định tại khoản 1 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Hoàn trả lại cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 68, Điều 91, khoản 2 Điều 92, khoản 1 Điều 147, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015;

Áp dụng Điều 40, 357, 463, 466, 468, 470 Bộ luật Dân sự năm 2005;

Áp dụng Điều 5, Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/05/2017, Điều 5 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;

Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Áp dụng Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014;

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu của Quỹ trợ vốn xã viên hợp tác xã Thành phố H.
    1. Buộc bà Võ Thị Ngọc L có trách nhiệm trả cho Q trợ vốn xã viên hợp tác xã Thành phố H số tiền tính đến ngày 06/02/2025 là 21.237.100 đồng (hai mươi mốt triệu hai trăm ba mươi bảy ngàn một trăm đồng), trong đó bao gồm tiền vốn: 17.764.000 đồng, phí trợ vốn (lãi): 3.137.100 đồng, phí trả cấp liên nhiệm: 336.000 đồng.
    2. Kể từ ngày 07/02/2025, bà Võ Thị Ngọc L còn phải tiếp tục trả khoản tiền phí trợ vốn, phí trả cấp liên nhiệm trên số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận tại Danh sách nhận trợ vốn kiêm biên bản bàn giao vốn ngày 22/09/2022 của Quỹ CCM cho đến khi thanh toán xong khoản nợ vốn gốc nêu trên.
  2. Đình chỉ xét xử yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu ông Võ Duy P có trách nhiện trả nợ thay cho bà Võ Thị Ngọc L.
  3. Về án phí:
    1. Bà Võ Thị Ngọc L chịu 1.061.855 đồng (một triệu không trăm sáu mươi mốt ngàn tám trăm năm mươi lăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
    2. Hoàn lại cho Q trợ vốn xã viên hợp tác xã Thành phố H số tiền tạm ứng án phí đã nộp 444.100 đồng (bốn trăm bốn mươi bốn ngàn một trăm đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0042867 ngày 04 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
  4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014.

  5. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - TAND Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - VKSND Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - VKSND huyện Bình Chánh;
  • - Chi cục THADS huyện Bình Chánh;
  • - Lưu VP, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Văn Lưới

THÔNG TIN BẢN ÁN

Quyết định số 75/2025/DS-ST ngày 06/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số quyết định: 75/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/02/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger