Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NGHĨA ĐÀN

TỈNH NGHỆ AN

Bản án số: 74/2023/HSST

Ngày: 27/10/2023

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA ĐÀN – TỈNH NGHỆ AN

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Lê Viết Hà

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quốc Tú và ông Nguyễn Bá Thảo.

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn NgọcThanh - Cán bộ Toà án nhân dân huyện Nghĩa Đàn – tỉnh Nghệ An.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Đàn – tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Ông Hoàng Bá Thọ - Kiểm sát viên.

Trong ngày 27 tháng 10 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 72/2023/HSST ngày 17 tháng 10 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 78/2023/HSST-QĐ ngày 17 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo:

Lê Đình P; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 10 tháng 5 năm 1992 tại huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: làng M, xã NM, huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Chức vụ đảng phái: không;Trình độ học vấn: 09/12; Con ông: Lê Đình Q, sinh năm 1964 và bà Vũ Thị Đ, sinh năm 1966; Vợ: Hà Thị T, sinh năm 1995; Con: có 01 con sinh năm 2021; Tiền án, tiền sự: không;Bị can bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/6/2023 cho đến nay. Có mặt.

- Anh Nguyễn Đình T, sinh năm 1985; Địa chỉ: làng M, xã NM, huyện NĐ, tỉnh Nghệ An; Vắng mặt.

- Chị Hà Thị T, sinh năm 1995; Địa chỉ: làng M, xã NM, huyện NĐ, tỉnh Nghệ An; Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Đình P là người thường sử dụng chất ma túy từ đầu năm 2021, loại ma túy mà P sử dụng là H. Trưa ngày 06 tháng 06 năm 2023, Lê Đình P điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda biển kiểm soát 37F1-192.57 của vợ là Hà Thị T đi từ nhà lên thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An để tìm mua ma tuý. Khi lên thị trấn Q, huyện Q, Lê Đình P gặp một người đàn ông P không rõ lai lịch, địa chỉ. Lê Đình P hỏi mua ma tuý thì người đàn ông này yêu cầu P đưa tiền trước. Lê Đình P đưa cho người đàn ông này 01 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng thì người đàn ông này nói P đứng chờ, sau đó người đàn ông này đi xe máy về hướng lên C, huyện Q. Khoảng 05 phút người đàn ông này đi xe máy quay lại gặp Lê Đình P thì vứt về phía P một gói ma tuý được bọc bên ngoài bằng nilông màu đen. Lê Đình P đi lại nhặt lấy gói ma túy rồi kiểm tra bên trong có ma tuý là heroin dạng bột màu trắng nên P cầm gói ma tuý này đi về nhà. Về đến nhà Lê Đình P chia gói ma tuý mới mua được làm 02 phần, một phần P gói trong giấy bạc màu trắng, bên trong được bọc bằng lớp ni lông màu đỏ và ni lông màu vàng rồi cất trong túi quần của P. Phần còn lại thì Lê Đình P lấy xi ranh và lọ nước cất pha vào rồi sử dụng hết. Khoảng 09 giờ ngày 07 tháng 06 năm 2023, Lê Đình P đang ở nhà thì Nguyễn Văn T1, sinh năm 1985, trú tại làng M, xã N, huyện N dùng số điện thoại 0967.787.xxx gọi điện thoại đến số điện thoại của P là 0889.219.xxx để hỏi mua ma tuý. Nguyễn Văn T1 đặt mua 400.000 đồng thì Lê Đình P đồng ý bán số ma túy còn lại chưa sử dụng đến cho T1. Khoảng 30 phút sau thì Lê Đình P gọi cho T1 đến lấy ma tuý nhưng T1 nói chưa có xe máy nên chưa đến được. Lê Đình P dặn T1 khi nào đi đến lấy ma tuý thì gọi điện thoại cho P trước. Đến khoảng 09 giờ 50 phút cùng ngày, Nguyễn Văn T1 gọi điện thoại cho Lê Đình P nói “đứng đợi ở đường bê tông sau hồi nhà anh Hồng H1” thuộc làng M, xã N, huyện N. Lê Đình P điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda biển kiểm soát 37F1-192.57 cầm theo gói ma tuý ở trong lòng bàn tay trái đi từ nhà đến gần nhà ông Hồng H1, ở làng M, xã N, huyện N thì gặp Nguyễn Văn T1 đi cùng với anh Hoàng Văn V, sinh năm 1980, trú tại xóm Đ, xã N, huyện N đang đứng chờ. Lê Đình P gọi T1 đến thì T1 đi bộ đến gặp trực tiếp P còn anh Hoàng Văn V đứng chờ cạnh đó. Nguyễn Văn T1 đưa cho Lê Đình P 400.000 đồng (gồm 02 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng và 01 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng). Lê Đình P đưa cho Nguyễn Văn T1 một gói ma tuý được gói bằng giấy bạc màu trắng, bên trong được bọc bằng lớp ni lông màu đỏ và ni lông màu vàng. Bán được ma túy cho T1, Lê Đình P cầm số tiền này đi về nhà cất ở sau ốp điện thoại di động của vợ là Hà Thị T cùng với tiền của vợ. Nguyễn Văn T1 cầm gói ma túy mua được của Lê Đình P đi ra chợ xã N, huyện N nhằm tìm nơi sử dụng cho bản thân thì bị Công an huyện N kiểm tra phát hiện lập biện bản sự việc, thu giữ và niêm phong gói ma túy thu giữ của Nguyễn Văn T1. Ngày 07 tháng 06 năm 2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện N thi hành Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Lê Đình P, thu giữ 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphon 7, màu đen, bên trong có gắp thẻ sim điện thoại 0889.219.xxx. Cùng ngày, Cơ quan CSĐT Công an huyện N tiến hành khám xét nhà ở Lê Đình P, thu giữ 01 xe máy nhãn hiệu Honda, loại xe Vison, màu mận, biển kiểm soát 37F1-192.57, 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphon 6S, màu hồng nhạt và số tiền 550.000 đồng (Năm trăm năm mươi nghìn đồng).

Tại bản kết luận giám định số: 609/KL-KTHS (Đ2-MT) ngày 12 tháng 06 năm 2023 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: Mẫu chất bột màu trắng thu giữ của Nguyễn Văn T1 gửi đến giám định là ma túy; loại Heroin (H) có khối lượng 0,03 gam.

Cáo trạng số 73/CT-VKSNgĐ ngày 22 tháng 09 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Đàn đã truy tố bị cáo Lê Đình P về tội “ Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện VKSND huyện Nghĩa Đàn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 điều 251; điểm s khoản 1 điều 51; điều 38 BLHS xử phạt : Lê Đình P từ 30 – 35 tháng tù. Tịch thu tiêu hủy 02 mảnh ny lon và 01 thẻ sim; Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động và 400.000 đồng. Trả lại cho chị T 150.000 đồng. Về án phí: bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Lời nói sau cùng của bị cáo: bị cáo đã nhận ra lỗi lầm của mình xin hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác,

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của những người làm chứng, vật chứng và các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập trong quá trình điều tra và được thẩm lại tại phiên tòa hôm nay. Từ đó xác định được: Ngày 06 tháng 06 năm 2023, Lê Đình P đã mua 01 gói ma tuý (dạng Heroine) của người đàn ông không quen biết ở thị trấn Q, huyện Q đưa về chia làm 02 phần, một phần thì Lê Đình P sử dụng hết, phần còn lại thì P cất. Sáng ngày 07 tháng 06 năm 2023, tại khu vực làng M, xã N, huyện N. Lê Đình P đã bán gói ma túy còn lại cho Nguyễn Văn T1 lấy 400.000 đồng. Trưa ngày 07 tháng 06 năm 2023, Nguyễn Văn T1 cầm gói ma túy mua của P đi đến chợ N, Nghĩa Đ nhằm tìm nơi sử dụng thì bị Công an huyện N kiểm tra phát hiện thu giữ số ma túy này. Kết luận giám định xác định số ma túy thu giữ của Nguyễn Văn T1 là heroine có khối lượng 0,03 gam. Do vậy Hội đồng xét xử đủ căn cứ kết luận bị cáo Nguyễn Đình P1 đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” quy định tại khoản 1 điều 251 BLHS.

Đây là vụ án do bị cáo Lê Đình P thực hiện với lỗi cố ý đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách quản lý nhà nước về chất ma túy. Bị cáo ý thức được việc mua bán tàng trữ trái phép chất ma túy là bị pháp luật nghiêm cấm nhưng do bản chất ăn chơi đua đòi không biết kiềm chế làm chủ bản thân đã đẩy bị cáo vào con đường phạm tội. Việc sử dụng, tàng trữ trái phép chất ma túy gây tác hại xấu đến sức khỏe, làm suy thoái đạo đức, phát sinh các tệ nạn xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Do vậy cần phải xử lý nghiêm.

Xét tình tiết tăng nặng: bị cáo không có có tình tiết tăng nặng .

Xét tình tiết giảm nhẹ: bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xét nhân thân: Bị cáo ó nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự.

Căn cứ vào quy định của Bộ luật Hình sự trên cơ sở cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra kết hợp với việc xem xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian mới đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện có hoàn cảnh khó khăn, thu nhập không ổn định nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Đối với 02 mảnh ny lon và 01 thẻ sim là công cụ bị cáo phạm tội cần tịch thu tiêu hủy. Số tiền 400.000 đồng và chiếc điện thoại di động bị cáo sử dụng vào việc phạm tội cần tịch thu sung quỹ nhà nước. Số tiền 150.000 đồng là của chị T không liên quan đến việc phạm tội cần trả lại cho chị T.

Đối với người đàn ông bán ma túy cho các bị cáo chưa xác định được lai lịch, địa chỉ khi nào làm được rõ sẽ xử lý sau.

Về án phí: buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lê Đình P 30 (ba mươi) tháng tù về tội: “ Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 07/06/2023 .

- Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 2 khoản 4 điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy 02 mảnh ny lon và 01 thẻ sim; Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động, 400.000 đồng. Trả lại cho chị T 150.000 đồng có đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng vụ án ngày 27/09/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N và Chi cục Thi hành án huyện Nghĩa Đàn.

- Về án phí: Áp dụng điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về Án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Đình P1 phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND huyện;
  • - Công an huyện;
  • - Chi cục THADS huyện;
  • - UBND cấp xã nơi b/c cư trú;
  • - Sở Tư pháp;
  • - TAND tỉnh;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà

Lê Viết Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Quyết định số 74/2023/HSST ngày 27/10/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA ĐÀN – TỈNH NGHỆ AN về hình sự: mua bán trái phép chất ma túy

  • Số quyết định: 74/2023/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/10/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA ĐÀN – TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bản án hình sự
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger