|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Số: 74/2024/QĐST- HNGĐ |
Hải Dương, ngày 27 tháng 8 năm 2024 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn và thỏa thuận nuôi con khi ly hôn
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền
Thư ký phiên họp: Bà Lê Thị Thúy Hà - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương: Bà Phan Thị Thu Huyền - Kiểm sát viên, tham gia phiên họp.
Ngày 27 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 236/2024/TLST-HNGĐ ngày 08/5/2024, về việc “Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn và thỏa thuận nuôi con khi ly hôn ". Theo Quyết định mở phiên họp số 434/2024/QĐMPH-HNGĐ ngày 12/8/2024, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
-
* Người yêu cầu:
1. Chị Trương Thị T, sinh ngày 10/8/1991.
Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Thị trấn V, huyện B, tỉnh Hà Giang.
Hiện đang sinh sống: Hàn Quốc.
2. Anh Nguyễn Văn N, sinh ngày 21/7/1988.
Địa chỉ: Thôn L, xã L, huyện C, tỉnh Hải Dương.
-
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Bà Đặng Kim C, sinh năm 1964.
Địa chỉ : Tổ B, thị trấn V, huyện B, tỉnh Hà Giang.
(Chị T, anh N, bà C đều có quan điểm đề nghị giải quyết vắng mặt).
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
- Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai, đơn đề nghị giải quyết vắng mặt của chị Trương Thị T và anh Nguyễn Văn N cùng các tài liệu có trong hồ sơ thể hiện :
Về quan hệ vợ chồng: Anh Nguyễn Văn N và chị Trương Thị T có thời gian lao động tại Đài Loan, hai bên tự do tìm hiểu, năm 2019 anh chị về Việt Nam và ngày 24/9/2015 anh chị đến Ủy ban nhân dân xã L, huyện C, tỉnh Hải Dương đăng ký kết hôn. Sau ngày cưới anh N tiếp tục sang Đài Loan lao động, chị T về huyện B, tỉnh Hà Giang để sinh con. Thời gian đầu vợ chồng thường xuyên liên lạc. Năm 2017 chị T sang Hàn Quốc lao động, vợ chồng mỗi người sống một nơi, không quan tâm đến nhau dẫn đến vợ chồng bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung. Nay anh N, chị T đều xác định tình cảm vợ chồng không còn, anh N có đơn xin ly hôn, quan điểm của chị T cũng đồng ý, đề nghị Tòa án công nhận thuận tình ly hôn cho anh chị.
Về quan hệ con chung: Chị T, anh N có 1 con chung là Nguyễn Đặng Hải N1, sinh ngày 06/12/2015, từ nhỏ cháu N1 được bà ngoại chăm sóc, nuôi dưỡng. Thỉnh thoảng khi nghỉ hè hoặc lễ tết anh mới đón cháu N1 về chơi. Ly hôn để ổn định cuộc sống của cháu N1, anh và chị T thỏa thuận chị T tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc cháu N1. Trong Thời gian chị T ở nước ngoài, chị T ủy quyền cho mẹ đẻ là bà Đặng Kim C chăm sóc cháu N1. Về cấp dưỡng tiền nuôi con các bên tự thỏa thuận, ly hôn không đề nghị Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị T, anh N đều xác định không có, ly hôn anh chị không đề nghị Tòa án giải quyết.
Về lệ phí: Anh N tự nguyện chịu toàn bộ lệ phí giải quyết việc dân sự.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Đặng Kim C trình bày: Bà là mẹ đẻ của chị T, hiện tại bà đang chăm sóc cháu Nguyễn Đặng Hải N1, bà đồng ý nhận ủy quyền của chị T về việc chăm sóc cháu N1 trong thời gian chị T không ở Việt Nam, đồng thời bà đề nghị được giải quyết vắng mặt.
Cháu Nguyễn Đặng Hải N1 có quan điểm được ở với mẹ khi bố mẹ ly hôn, trong thời chị T không ở Việt Nam, cháu N1 có nguyện vọng được ở với bà ngoại là Đặng Kim C.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương phát biểu quan điểm: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, thư ký và các đương sự đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về đường lối giải quyết vụ việc: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ cho thấy mâu thuẫn giữa chị Trương Thị T và anh Nguyễn Văn N đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn của chị T và anh N. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Đặng Hải N1, sinh ngày 06/12/2015 cho chị Trương Thị T chăm sóc, nuôi dưỡng. Trong thời gian chị T không ở Việt Nam, tạm giao cháu N1 cho bà Đặng Kim C chăm sóc, nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng tiền nuôi con các bên tự thỏa thuận nên không xem xét giải quyết. Anh N chịu toàn bộ lệ phí giải quyết việc dân sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tại phiên họp, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương nhận định:
[1]. Về tố tụng: Chị Trương Thị T có địa chỉ trước khi xuất cảnh tại tổ B, thị trấn V, huyện B, tỉnh Hà Giang. Anh anh Nguyễn Văn N có địa chỉ tại thôn L, xã L, huyện C, tỉnh Hải Dương. Hiện chị T đang sinh sống và làm việc tại Hàn Quốc, chị T và anh N đều lựa chọn Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương giải quyết ly hôn, nên vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
Tài liệu chị T gửi về Việt Nam gồm đơn xin ly hôn, bản tự khai, giấy ủy quyền, đơn đề nghị giải quyết vắng mặt ghi ngày 06/4/2024 do bà C giao nộp, chưa được xác nhận của cơ quan có thẩm quyền. Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương đã trưng cầu giám định chữ ký, chữ viết của chị T. Tại kết luận giám định số 1578/KL-KTHS ngày 30 tháng 5 năm 2024 của Phòng K công an thành phố H kết luận: Chữ ký tại tài liệu giám định so với mẫu giám định không phải do cùng một người ký, viết ra.
Ngày 31/7/2024, anh N cung cấp tài liệu mới của chị T gồm: Bản tự khai ghi ngày 02/7/2024, giấy ủy quyền, đơn xin giải quyết vắng mặt chưa được xác nhận của cơ quan có thẩm quyền. Tòa án tiếp tục trưng cầu giám định chữ ký, chữ viết của chị T. Tại kết luận giám định số 2369/KL-KTHS ngày 12 tháng 8 năm 2024 của Phòng K Công an thành phố H kết luận: Chữ ký, chữ viết mang tên Trương Thị T trên các mẫu cần giám định ký hiệu là A1, A2, A3 so với chữ ký, chữ viết của người mang tên Trương Thị T tại mục “Vợ” trên mẫu so sánh ký hiệu M là do cùng một người ký, viết ra. Như vậy, có đủ căn cứ xác định tài liệu chị T gửi về Việt Nam là đúng ý chí, nguyện vọng của chị T.
Chị T ủy quyền cho bà Đặng Kim C chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Nguyễn Đặng Hải N1 trong thời gian chị không ở Việt Nam, nên Tòa án xác định bà C là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
Chị T, anh N, bà C đều có quan điểm đề nghị giải quyết vắng mặt, nên căn cứ Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án quyết định mở phiên họp vắng mặt các đương sự.
[2]. Về nội dung:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Trương Thị T và anh Nguyễn Văn N được tự do tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện C, tỉnh Hải Dương ngày 24/9/2015, do vậy hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Vợ chồng sống hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng mỗi người sống một nơi, hai bên thiếu sự quan tâm, chia sẻ dẫn đến bất đồng quan điểm, vợ chồng sống ly thân từ năm 2017. Nay anh N, chị T đều xác định tình cảm vợ chồng không còn và cùng đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương công nhận sự thuận tình ly hôn của anh chị. Xét thấy mâu thuẫn giữa chị T và anh N đã trầm trọng và kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh chị.
- Về con chung: Chị Trương Thị T và anh Nguyễn Văn N có một con chung là cháu Nguyễn Đặng Hải N1, sinh ngày 06/12/2015. Ly hôn anh N, chị T thỏa thuận, chị T là người trực tiếp nuôi con. Xét thấy, thực tế cháu N1 từ khi sinh ra đã ở với mẹ và bà ngoại, hiện cháu được học tập tại trường tiểu học N2, thị trấn V, huyện B, tỉnh Hà Giang. Cháu N1 được học tập, khỏe mạnh và phát triển tốt. Do đó cần chấp nhận sự thỏa thuận của anh N, chị T, tiếp tục giao cháu Hải N1 cho chị T chăm sóc, nuôi dưỡng. Trong thời gian chị T không ở Việt Nam, tạm giao cháu Hải N1 cho bà Đặng Kim C chăm sóc, nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng tiền nuôi con các bên tự thỏa thuận nên không xem xét giải quyết.
- Về tài sản chung, nợ chung: Chị Trương Thị T và anh Nguyễn Văn N đều xác định không có, không đề nghị giải quyết nên Tòa án không xem xét.
[3]. Về lệ phí: Chấp nhận sự tự nguyện của anh Nguyễn Văn N chịu toàn bộ lệ phí giải quyết việc dân sự.
Vì những lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Điều 55, Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 2 Điều 29, điểm b khoản 1 Điều 37, Điều 149 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án.
1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Trương Thị T và anh Nguyễn Văn N.
2. Về con chung: Công nhận sự thỏa thuận của chị Trương Thị T và anh Nguyễn Văn N, giao cháu Nguyễn Đặng Hải N1, sinh ngày 06/12/2015 cho chị Trương Thị T nuôi dưỡng cho đến khi con chung tròn 18 tuổi. Trong thời gian chị T không ở Việt Nam, tạm giao cháu Hải N1 cho bà Đặng Kim C chăm sóc, nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng tiền nuôi con do các bên tự thỏa thuận.
Anh Nguyễn Văn N được quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở.
3. Về lệ phí: Anh Nguyễn Văn N tự nguyện chịu cả 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) lệ phí giải quyết việc dân sự, được đối trừ số tiền tạm ứng lệ phí 300.000đ theo biên lai thu số 0000668 ngày 08 tháng 5 năm 2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương. Anh N đã nộp đủ lệ phí.
4. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm./.
|
Nơi nhận:
|
Thẩm phán – Chủ tọa phiên họp Nguyễn Thị Thu Hiền |
Quyết định số 74/2024/QĐST- HNGĐ ngày 27/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn và thỏa thuận nuôi con khi ly hôn
- Số quyết định: 74/2024/QĐST- HNGĐ
- Quan hệ pháp luật: Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn và thỏa thuận nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự
