Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 73 /2023/QÐST-HNGĐ

Ngày: 26/8/2023.

“V/v Yêu cầu công nhận

thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi

con chung"

QUYẾT ĐỊNH GIẢI QUYẾT VIỆC

YÊU CẦU CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN

VÀ SỰ THỎA THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG

Thành phần giải quyết việc yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn và

sự thỏa thuận của các đương sự gồm có:

  • - Chủ tọa phiên họp: Bà Phạm Thị Mai Hoa - Thẩm phán
  • - Thư ký phiên họp: Ông Lê Quốc Phong - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên họp: Bà Bùi Thị Hậu - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương mở phiên họp công khai giải quyết việc hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số 359/2023/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 7 năm 2023, về việc “Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận việc nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định mở phiên họp số 337/2023/QÐST-HNGĐ ngày 08 tháng 8 năm 2023, giữa:

* Người yêu cầu:

  • - Anh Vũ Văn Đ, sinh năm 1996,
  • Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Thôn C, xã C, huyện B, tỉnh Hải Dương. Nơi ở hiện nay: Đài Loan;
  • - Chị Vũ Thị L, sinh năm 2000,
  • Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Thôn C, xã C, huyện B, tỉnh Hải Dương. Nơi ở hiện nay: Đài Loan.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • - Ông Vũ Văn T, sinh năm 1973, địa chỉ: Thôn Ô, xã C, huyện B, tỉnh Hải Dương.

Anh Đ, chị L, ông T đều đề nghị giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VIỆC HÔN NHÂN VÀ ĐÌNH:

* Theo đơn xin ly hôn của anh Vũ Văn Đ và chị Vũ Thị L, cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện:

Về quan hệ hôn nhân: Anh Vũ Văn Đ và chị Vũ Thị L tự do tìm hiểu, tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện B, tỉnh Hải Dương vào ngày 22/10/2018. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Do hoàn cảnh kinh tế nên năm 2022 chị L đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan. Thời gian đầu sang Đài Loan vợ chồng vẫn thường xuyên liên lạc nhưng mỗi lần nói chuyện thường xảy ra cãi nhau. Đến năm 2023, anh Đ cũng đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan. Tuy nhiên, sang Đài Loan vợ chồng mỗi người một nơi, thỉnh thoảng vẫn liên lạc qua điện thoại nhưng mỗi lần nói chuyện vợ chồng lại cãi nhau nên dần dần không còn liên lạc với nhau. Hai bên gia đình cũng gọi điện khuyên bảo để tháo gỡ vướng mắc nhưng không có kết quả, không có khả năng hàn gắn. Nay anh Đ và chị L xác định tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc nên đã thống nhất làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn để sớm ổn định cuộc sống riêng.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Vũ Đăng K, sinh ngày 23/11/2018. Hiện cháu K đang được ông bà nội chăm sóc. Do anh Đ và chị L đang làm việc ở Đài Loan nên sau khi ly hôn anh Đ và chị L thống nhất để anh Đ được nuôi dưỡng con chung, trong thời gian anh Đ không có nhà anh Đ nhờ bố đẻ là ông Vũ Văn T chăm sóc cháu K cho đến khi anh Đ về Việt Nam. Việc cấp dưỡng nuôi con chung hai bên tự thỏa thuận không đề nghị Tòa án giải quyết.

Về tài sản, vay nợ: Hai bên đều không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, ông Vũ Văn T trình bày:

Anh Đ và chị L hiện đang làm việc tại Đài Loan. Anh Đ và chị L thuận tình ly hôn và thỏa thuận giao con chung là cháu Vũ Đăng K cho anh Đ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Tuy nhiên, anh Đ đang làm việc tại Đài Loan không trực tiếp chăm sóc cháu K được, anh Đ nhờ ông chăm sóc cháu K ông nhất trí.

Tại phiên họp anh Đ, chị L, ông T đều có đơn xin vắng mặt và giữ nguyên quan điểm đã gửi Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương có quan điểm:

  • - Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Thư ký, các đương sự đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • - Về quan điểm giải quyết việc: Đề nghị Tòa án áp dụng Điều 55, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân & Gia đình; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Về quan hệ vợ chồng: Công nhận thuận tình ly hôn giữa anh Vũ Văn Đ và chị Vũ Thị L.
  • Về con chung: Công nhận thỏa thuận của vợ chồng, giao cho anh Vũ Văn Đ được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung Vũ Đăng K, sinh ngày 23/11/2018 cho đến khi trưởng thành, việc cấp dưỡng tiền nuôi con chung hai bên tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tạm giao cháu K cho ông Vũ Văn T chăm sóc trong thời gian anh Đ chưa về nước; Về tài sản chung, vay nợ: Các đương sự không yêu cầu nên không giải quyết; Về lệ phí: Anh Đ, chị L phải chịu 300.000 đồng lệ phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc hôn nhân và gia đình được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương nhận định:

[1]. Về tố tụng: Anh Vũ Văn Đ, chị Vũ Thị L có đơn đề nghị Tòa án công nhận thuận tình ly hôn. Anh Đ và chị L đang sinh sống và làm việc tại Đài Loan. Do vậy, việc yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con chung khi ly hôn của anh Đ và chị L thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương theo quy định tại khoản 2 Điều 29, điểm b khoản 1 Điều 37, điểm h khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Anh Vũ Văn Đ và chị Vũ Thị L không trực tiếp tham gia tố tụng tại Tòa án nhưng đã ủy quyền cho bà Nguyễn Thị N giao nộp các tài liệu, gồm: Đơn xin ly hôn, đơn xin giải quyết vắng mặt, ủy quyền cho bà N đến giao nhận tài liệu, bản tự khai. Các văn bản của chị L và anh Đ đều có xác nhận của Văn phòng K2 tại Đ. Vậy các tài liệu này là hợp pháp.

Anh Đ, chị L, ông T đều đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành mở phiên họp giải quyết việc dân sự vắng mặt các đương sự theo thủ tục chung.

[2]. Về nội dung:

[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Anh Vũ Văn Đ và chị Vũ Thị L tự do tìm hiểu, tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện B, tỉnh Hải Dương vào ngày 22/10/2018, do vậy hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Trong cuộc sống vợ chồng thường xuyên bất đồng quan điểm và không tìm được tiếng nói chung. Đến nay, cả hai đều xác định tình cảm không còn và đều có đơn xin ly hôn. Xét thấy mâu thuẫn giữa anh Đ, chị L đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Đ, chị L theo quy định tại Điều 55 Luật Hôn nhân và Gia đình.

[2.2]. Về con chung: Anh Đ và chị L có 01 con chung là cháu Vũ Đăng K, sinh ngày 23/11/2018. Do anh Đ và chị L đang làm việc tại Đài Loan nên sau khi ly hôn anh chị thống nhất để anh Đ được nuôi con chung, trong thời gian anh Đ không có nhà thì cháu K do ông Vũ Văn T (bố đẻ anh Đ) chăm sóc đến khi anh Đ về Việt Nam. Việc cấp dưỡng nuôi con chung hai bên tự thỏa thuận không đề nghị Tòa án giải quyết. Xét cháu K hiện đang ở cùng bố mẹ đẻ anh Đ ổn định cuộc sống cũng như học tập, ông T nhất trí chăm sóc cháu K trong thời gian anh K chưa về Việt Nam theo thỏa thuận của anh Đ, chị L, do đó cần chấp nhận sự thỏa thuận của anh Đ và chị L.

Chị L có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở là phù hợp với quy định tại Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình.

[2.3]. Về tài sản: Anh Đ, chị L không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.

[3]. Về lệ phí ly hôn sơ thẩm: Anh Đ, chị L mỗi người phải chịu 150.000 đồng lệ phí ly hôn sơ thẩm (cộng bằng 300.000 đồng).

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 55, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân & Gia đình; khoản 2 Điều 29, điểm b khoản 1 Điều 37, điểm h khoản 2 Điều 39, Điều 149, Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH 13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh Vũ Văn Đ và chị Vũ Thị L.
  2. Về con chung: Công nhận sự thỏa thuận của anh Vũ Văn Đ và chị Vũ Thị L, giao cho anh Vũ Văn Đ tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Vũ Đăng K, sinh ngày 23/11/2018 từ tháng 8/2023 cho đến khi con chung tròn 18 tuổi. Hai bên tự thỏa thuận về việc cấp dưỡng tiền nuôi dưỡng con chung.

Tạm giao cháu Vũ Đăng K cho ông Vũ Văn T chăm sóc, nuôi dưỡng trong thời gian anh Đ không ở Việt Nam.

Chị Vũ Thị L được quyền, nghĩa vụ thăm nom các con chung mà không ai được cản trở.

2. Về lệ phí ly hôn sơ thẩm: Anh Vũ Văn Đ, chị Vũ Thị L phải chịu mỗi người 150.000 đồng. Tổng cộng hai người phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) lệ phí ly hôn sơ thẩm, được đối trừ số tiền tạm ứng lệ phí 300.000 đồng do bà Nguyễn Thị N đã nộp thay theo biên lai thu số AA/2022/0002412 ngày 25 tháng 7 năm 2023 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương (Anh Đ, chị L đã thực hiện xong).

3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm./.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND tỉnh Hải Dương;
  • - Cục THADS tỉnh Hải Dương;
  • - UBND xã Cổ Bì, huyện Bình Giang (để nghi vào sổ ĐKKH);
  • - Lưu hồ sơ, VP, Tòa GĐ&NCTN, Tòa HC.

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP

Phạm Thị Mai Hoa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Quyết định số 73/2023/QÐST-HNGĐ ngày 26/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con chung

  • Số quyết định: 73/2023/QÐST-HNGĐ
  • Quan hệ pháp luật: Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/08/2023
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vũ Văn Đ và Vũ Thị L yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con chung
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger