|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Số: 73/2024/QĐCNHGT-HNGĐ |
Nghi Sơn, ngày 09 tháng 8 năm 2024 |
QUYẾT ĐỊNH
CÔNG NHẬN KẾT QUẢ HÒA GIẢI THÀNH TẠI TÒA ÁN
Căn cứ các điều 32, 33, 34 và 35 của Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án;
Căn cứ Điều 88, 89, 91 và khoản 2 Điều 101 Luật Hôn nhân gia đình; khoản 4 Điều 16 Thông tư số 04/2020/TT-BTP ngày 28/5/2020 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hộ tịch và Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15 tháng 11 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch;
Căn cứ vào yêu cầu công nhận kết quả hòa giải thành của bà Lê Thị Q và ông Nguyễn Văn T.
Sau khi nghiên cứu:
- - Đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự đề ngày 18/6/2024 về việc yêu cầu xác định cha cho con của bà Lê Thị Q.
- - Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải ngày 24 tháng 7 năm 2024 về việc thỏa thuận giải quyết toàn bộ một phần tranh chấp của các bên tham gia hòa giải sau đây:
- + Người yêu cầu: Bà Lê Thị Q - sinh năm 1985
- - Người có liên quan: Ông Nguyễn Văn T - sinh năm 1983
- Đều có địa chỉ: Tổ dân phố Đ, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa
- - Các tài liệu kèm theo Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải do Hòa giải viên chuyển sang Tòa án và các tài liệu do Tòa án thu thập được theo quy định tại khoản 2 Điều 32 của Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Kết quả hòa giải thành được ghi trong Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải ngày 24 tháng 7 năm 2024 có đủ các điều kiện quy định tại Điều 33 của Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Công nhận kết quả hòa giải thành của các bên được ghi trong Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải ngày 24 tháng 7 năm 2024, cụ thể như sau:
Trước đây, bà Lê Thị Q và ông Lê Hoàng L là vợ chồng. Do mâu thuẫn vợ chồng nên bà Q và ông L đã ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 210/2019/QĐST-HNGĐ ngày 08 tháng 10 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang. Tại quyết định này thể hiện vợ chồng có một con chung tên Lê Thị Nh - sinh ngày 01 tháng 3 năm 2007 giao cho bà Q trực tiếp nuôi dưỡng.
Do có hành vi vi phạm pháp luật nên ông L đã bị Tòa án tuyên án chung thân và thi hành án kể từ năm 2009.
Trước khi giải quyết ly hôn với ông L, bà Q có quan hệ tình cảm với ông Nguyễn Văn T – sinh năm 1983, địa chỉ: Tổ dân phố Đ, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa và có thai, sinh con vào ngày 27 tháng 7 năm 2018, đặt tên là Lê Thị Anh T theo Giấy khai sinh số 451/2020, đăng ký khai sinh ngày 28/7/2020 tại Ủy ban nhân dân xã Hải Nhân, thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Vào thời điểm sinh cháu Anh T, vì đang trong thời kỳ hôn nhân hợp pháp với ông L nên khi khai sinh cháu Anh T, Ủy ban nhân dân xã Hải Nhân căn cứ theo Giấy chứng nhận kết hôn giữa bà Q và ông L do đó trong giấy khai sinh tên người cha được ghi là Lê Hoàng L.
Năm 2019, bà Q mới làm thủ tục yêu cầu giải quyết ly hôn với ông L tại Tòa án. Quá trình giải quyết ly hôn, do lo sợ ông L gây khó khăn, nên bà Q không khai báo việc bà đã có con với người khác. Ông L cũng không biết việc bà Q đã sinh thêm một bé gái. Vì vậy, tại Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 210/2019/QĐST-HNGĐ ngày 08 tháng 10 năm 2019, Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang khi quyết định đã ghi nhận giữa bà Q và ông L chỉ có một con chung là cháu Lê Thị Nh.
Ngày 19 tháng 7 năm 2024, bà Q và ông T kết hôn. Sau đó bà Q và ông T có đưa cháu Lê Thị Anh T đi xét nghiệm ADN tại Trung tâm công nghệ sinh học ADN. Tại Kết luận giám định ADN số KL 231321/TH ngày 30/8/2023 của Trung tâm công nghệ sinh học AND kết luận: “Anh Nguyễn Văn T và cháu Lê Thị Anh T có mối quan hệ huyết thống cha – con".
Bà Q và ông T đã giao nộp các tài liệu, chứng cứ và yêu cầu Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn xác định cháu Lê Thị Anh T là con đẻ của ông T để cháu được làm lại giấy khai sinh cho đúng tên cha, mẹ đẻ và được hưởng các quyền và lợi ích hợp pháp theo quy định của pháp luật.
Từ những phân tích trên, Tòa án chấp nhận yêu cầu của bà Lê Thị Q và ông Nguyễn Văn T: Xác định cháu Lê Thị Anh T - Sinh ngày 27 tháng 7 năm 2018 và ông Nguyễn Văn T có quan hệ huyết thống cha – con.
2. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ký, không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và được thi hành theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
THẨM PHÁN Lê Thị Hạnh |
Quyết định số 73/2024/QĐCNHGT-HNGĐ ngày 09/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN TỈNH THANH HÓA về công nhận kết quả hòa giải thành (xác định cha cho con)
- Số quyết định: 73/2024/QĐCNHGT-HNGĐ
- Quan hệ pháp luật: Công nhận kết quả hòa giải thành (xác định cha cho con)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trước đây, bà Lê Thị Q và ông Lê Hoàng L là vợ chồng. Do mâu thuẫn vợ chồng nên bà Q và ông L đã ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 210/2019/QĐST-HNGĐ ngày 08 tháng 10 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang. Tại quyết định này thể hiện vợ chồng có một con chung tên Lê Thị Nh - sinh ngày 01 tháng 3 năm 2007 giao cho bà Q trực tiếp nuôi dưỡng. Do có hành vi vi phạm pháp luật nên ông L đã bị Tòa án tuyên án chung thân và thi hành án kể từ năm 2009. Trước khi giải quyết ly hôn với ông L, bà Q có quan hệ tình cảm với ông Nguyễn Văn T – sinh năm 1983, địa chỉ: Tổ dân phố Đ, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa và có thai, sinh con vào ngày 27 tháng 7 năm 2018, đặt tên là Lê Thị Anh T theo Giấy khai sinh số 451/2020, đăng ký khai sinh ngày 28/7/2020 tại Ủy ban nhân dân xã Hải Nhân, thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Vào thời điểm sinh cháu Anh T, vì đang trong thời kỳ hôn nhân hợp pháp với ông L nên khi khai sinh cháu Anh T, Ủy ban nhân dân xã Hải Nhân căn cứ theo Giấy chứng nhận kết hôn giữa bà Q và ông L do đó trong giấy khai sinh tên người cha được ghi là Lê Hoàng L. Năm 2019, bà Q mới làm thủ tục yêu cầu giải quyết ly hôn với ông L tại Tòa án. Quá trình giải quyết ly hôn, do lo sợ ông L gây khó khăn, nên bà Q không khai báo việc bà đã có con với người khác. Ông L cũng không biết việc bà Q đã sinh thêm một bé gái. Vì vậy, tại Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 210/2019/QĐST-HNGĐ ngày 08 tháng 10 năm 2019, Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang khi quyết định đã ghi nhận giữa bà Q và ông L chỉ có một con chung là cháu Lê Thị Nh. Ngày 19 tháng 7 năm 2024, bà Q và ông T kết hôn. Sau đó bà Q và ông T có đưa cháu Lê Thị Anh T đi xét nghiệm ADN tại Trung tâm công nghệ sinh học ADN. Tại Kết luận giám định ADN số KL 231321/TH ngày 30/8/2023 của Trung tâm công nghệ sinh học AND kết luận: “Anh Nguyễn Văn T và cháu Lê Thị Anh T có mối quan hệ huyết thống cha – con”. Bà Q và ông T đã giao nộp các tài liệu, chứng cứ và yêu cầu Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn xác định cháu Lê Thị Anh T là con đẻ của ông T để cháu được làm lại giấy khai sinh cho đúng tên cha, mẹ đẻ và được hưởng các quyền và lợi ích hợp pháp theo quy định của pháp luật. Từ những phân tích trên, Tòa án chấp nhận yêu cầu của bà Lê Thị Q và ông Nguyễn Văn T: Xác định cháu Lê Thị Anh T - Sinh ngày 27 tháng 7 năm 2018 và ông Nguyễn Văn T có quan hệ huyết thống cha – con.
