TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG - TP. HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Số: 718/2023/QĐST-HNGĐ | Quận Hai Bà Trưng, ngày 25 tháng 10 năm 2023 |
QUYẾT ĐỊNH
CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN
VÀ SỰ THOẢ THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ
Căn cứ khoản 2 Điều 29, điểm b khoản 2 Điều 35, điểm h khoản 2 Điều 39, Điều 149, Điều 397, Điều 212 và Điều 213 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ khoản 1 Điều 51, Điều 55, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Luật Phí và Lệ phí năm 2015;
Căn cứ khoản 3 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH4 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Sau khi nghiên cứu hồ sơ việc dân sự thụ lý số 656/2023/TLST-VHNGĐ ngày 13/10/2023 về việc yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thoả thuận nuôi con và chia tài sản khi ly hôn của những người tham gia tố tụng sau đây:
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:
- - Chị Trịnh Thị T; sinh năm 1993;
- - Anh Nguyễn Hồng G; sinh năm 1984;
Đều có hộ khẩu thường trú và nơi cư trú tại: Số nhà 17, ngách 15, ngõ G, phường B, quận H, thành phố Hà Nội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Chị Trịnh Thị T và anh Nguyễn Hồng G kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, tự do tìm hiểu và có đăng ký kết hôn ngày 10/10/2019 tại Ủy ban nhân dân phường Trương Định, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội. Trước khi kết hôn, anh chị chưa ai kết hôn lần nào. Sau khi kết hôn cho đến nay, anh chị chung sống và có hộ khẩu thường trú tại địa chỉ: Số nhà 17, ngách 15, ngõ G, phường B, quận H, thành phố Hà Nội. Những năm đầu, anh chị chung sống hạnh phúc. Đến nay thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh chị không hợp nhau về tính cách, quan điểm và lối sống, dẫn đến vợ chồng thường nảy sinh những bất đồng, khiến cuộc sống chung rất mệt mỏi. Mặc dù anh chị đã cố gắng hàn gắn và được gia đình hai bên khuyên bảo nhưng mâu thuẫn vẫn không thể khắc phục được. Nay anh chị xác nhận không còn tình cảm với nhau, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên cùng làm đơn yêu cầu Toà án nhân dân quận Hai Bà Trưng giải quyết cho anh chị được thuận tình ly hôn.
Ngày 17/10/2023, Toà án đã tiến hành hoà giải để vợ chồng đoàn tụ; giải thích về quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng, giữa cha mẹ và con, giữa các thành viên khác trong gia đình, về trách nhiệm cấp dưỡng và các vấn đề khác liên quan đến hôn nhân gia đình. Tuy nhiên chị T và anh G không đồng ý đoàn tụ, hai bên thuận tình ly hôn và đã thoả thuận với nhau về các nội dung: tài sản, vay nợ, về con và nghĩa vụ chịu lệ phí giải quyết việc dân sự như ghi nhận tại Biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hòa giải thành lập ngày 17/10/2023.
Xét thấy việc thuận tình ly hôn và thoả thuận của chị T và anh G tại Biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hòa giải thành lập ngày 17/10/2023 là hoàn toàn tự nguyện, bảo đảm quyền lợi chính đáng của các bên và không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội. Đã hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thoả thuận đó.
QUYẾT ĐỊNH:
- Công nhận thuận tình ly hôn và sự thoả thuận của các đương sự, cụ thể như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Trịnh Thị T và anh Nguyễn Hồng G cùng xác nhận tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên cùng thuận tình ly hôn.
- Về con chung: Chị Trịnh Thị T và anh Nguyễn Hồng G cùng xác nhận có một con chung tên là: Nguyễn Trịnh Gia H, sinh ngày 28/10/2020. Anh chị thỏa thuận sau khi ly hôn, chị Trịnh Thị T là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung kể từ khi anh chị ly hôn cho đến khi con chung trưởng thành (đủ 18 tuổi) hoặc đến khi có sự thay đổi khác về người trực tiếp nuôi con.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh chị thoả thuận mỗi tháng anh Nguyễn Hồng G có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung với số tiền là 10.000.000 đồng (mười triệu đồng)/tháng cho đến khi con chung trưởng thành (đủ 18 tuổi) hoặc có sự thay đổi khác về việc cấp dưỡng.
Sau khi ly hôn, anh Nguyễn Hồng G có quyền và nghĩa vụ thăm nom và chăm sóc con chung, mà không ai được cản trở.
- Về tài sản chung (bao gồm động sản và bất động sản): Chị Trịnh Thị T và anh Nguyễn Hồng G cùng xác nhận tự thỏa thuận và không yêu cầu Toà án giải quyết, nên Toà án không xét.
- Về vay nợ chung: Chị Trịnh Thị T và anh Nguyễn Hồng G cùng xác nhận không có và không yêu cầu Toà án giải quyết, nên Toà án không xét.
- Về lệ phí: Chị Trịnh Thị T và anh Nguyễn Hồng G thỏa thuận chị Trịnh Thị T là người chịu toàn bộ lệ phí giải quyết việc hôn nhân gia đình là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) chị T đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0013930 ngày 16/10/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội.
- Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
* Nơi nhận:
| THẨM PHÁN (Đã kí) Nguyễn Thị Phương Thủy |
Quyết định số 718/2023/QĐST-HNGĐ ngày 25/10/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG - TP. HÀ NỘI về công nhận thuận tình ly hôn
- Số quyết định: 718/2023/QĐST-HNGĐ
- Quan hệ pháp luật: Công nhận thuận tình ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/10/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG - TP. HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Quyết định công nhận thuận tình ly hôn
