Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Số: 717/2025/QĐ-PT

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 30 tháng 6 năm 2025

QUYẾT ĐỊNH

GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI

QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với Hội đồng phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị Thu

Các Thẩm phán: Bà Võ Thị Kim Thương

Bà Phạm Thị Kim .

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên họp: Bà Triệu Thùy Linh – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Vũ Mai Diễm - Kiểm sát viên.

Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số:320/2025/QĐST-DS ngày 05 tháng 5 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 192 và điểm g khoản 1 Điều 217 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, giữa:

  1. Nguyên đơn: Bà Trương Thị Hoàng T, sinh năm 1981.
  2. Địa chỉ: 2 H, Phường D, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Ủy quyền:

    1. Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1985;
    2. Địa chỉ: 2 H, Phường D, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

      (Giấy ủy quyền 24/02/2025).

    3. Ông Nguyễn Khắc Trung K, sinh năm 1996;
    4. Địa chỉ: 2 H, Phường D, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

    5. Ông Nguyễn V, sinh năm 1997 – Đại diện.
    6. Địa chỉ: Phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế.

      (Giấy ủy quyền ngày 23/4/2025).

  3. Bị đơn: Ông Phan Thanh T1, sinh năm 1987.
  4. Địa chỉ: C (số D) ấp D, đường G, xã T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Ủy quyền ông Nguyễn Minh Đ, sinh năm 1995 - Đại diện.

    Địa chỉ: G L, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

    (Giấy ủy quyền ngày 26/02/2025).

Tại Đơn kháng cáo đề ngày 12/5/2025, nguyên đơn là bà Trương Thị Hoàng T yêu cầu cấp phúc thẩm hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số:320/2025/QĐST-DS ngày 05 tháng 5 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh, với lý do Tòa án cấp sơ thẩm, đình chỉ giải quyết vụ án là không đúng, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà.

XÉT THẤY:

[1] Hồ sơ vụ án thể hiện, nguyên đơn bà Trương Thị Hoàng T trình bày: Ngày 29/9/2022, bà cho ông Phan Thanh T1 vay 3.800.000.000 đồng(Ba tỷ tám trăm triệu đồng), lãi suất 2%/tháng (tức 76.000.000 đồng/tháng) nhưng không ghi trong hợp đồng, thời hạn vay 06(Sáu) tháng, kể từ ngày 29/9/2022 đến ngày 29/3/2023. Hai bên có lập Giấy vay tiền ngày 29/9/2022. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông T1 chuyển khoản cho bà được 02 tháng tiền lãi, mỗi tháng trả 76.000.000.000 đồng(Bảy mươi sáu triệu đồng) thì ngưng; Còn đối với số tiền vốn gốc 3.800.000.000 đồng(Ba tỷ tám trăm triệu đồng) thì ông T1 chưa thanh toán được đồng nào cho bà.

Ngày 08/11/2023, do ông T1 chưa thanh toán số tiền nợ gốc nêu trên cho bà nên ông T1 làm lại Giấy mượn tiền, xác nhận còn nợ vốn gốc của bà 3.800.000.000 đồng(Ba tỷ tám trăm triệu đồng), thời hạn trả, trong thời hạn 03 (Ba) năm, kể từ tháng 11/2023 đến tháng 11/2026. Cùng ngày, ông T1 xác nhận còn nợ tiền lãi của bà, tính từ ngày 09/11/2022 đến ngày 09/11/2023 là 900.000.000 đồng(Chín trăm triệu đồng), thời gian trả:Bắt đầu năm 2024 đến hết số nợ tiền lãi. Sau khi làm Giấy xác nhận tiền vốn gốc và tiền lãi thì từ năm 2024, ông T1 chưa trả số tiền gốc và tiền lãi cho bà như đã cam kết theo Giấy nượn tiền ngày 08/11/2023. Do vậy, ngày 02/5/2024, bà khởi kiện bị đơn ông T1, yêu cầu ông T1 trả số tiền vay vốn gốc 3.800.000.000 đồng(Ba tỷ tám trăm triệu đồng) và tiền lãi, với mức lãi suất 2%/tháng, tính từ ngày 09/11/2022 đến ngày xét xử sơ thẩm.(Bút lục số 44, 45 - 168,169).

Phía bị đơn ông Phan Thanh T1 khai, ông thừa nhận có viết hai giấy nợ nêu trên và có chuyển khoản cho bà T 02 (Hai) lần tiền, mỗi lần 76.000.000 đồng (Bảy mươi sáu triệu đồng), tiền này là do ông làm ăn thuận lợi nên hỗ trợ cho bà T, chứ không phải tiền lãi; Còn đối số tiền 900.000.000 đồng(Chín trăm triệu đồng) là tiền lãi của khoản vay 3.800.000.000 đồng (Ba tỷ tám trăm triệu đồng) là do bà T tự tính và yêu cầu ông viết giấy nợ tiền lãi 900.000.000 đồng(Chín trăm triệu đồng) cho bà T. Hiện ông vẫn còn nợ của bà T số tiền vốn gốc 3.800.000.000 đồng(Ba tỷ tám trăm triệu đồng) và chưa trả số tiền 900.000.000 đồng(Chín trăm triệu đồng). (Bút lục số 168-169).

[2] Tại Giấy vay tiền ngày 29/9/2022, giữa bà Trương Thị Hoàng T và ông Phan Thanh T1, có nội dung, như sau: “Chúng tôi gồm có:Tôi tên:Phan Thanh T1, sinh ngày:5/4/1987. CMND số:[...], cấp ngày 19/5/2016. Hộ khẩu thường trúẤp C, T, B, TP . Hồ Chí Minh. Tôi có vay của bàTrương Thị Hoàng T, sinh năm:1981. CCCD số: 0511810122962, cấp ngày 28/6/2021 Cục C cấp. Hộ khẩu thường trú: Thị xã Đ, Q. Với số tiền là: 3.800.000.000 đồng(ba tỉ tám trăm triệu đồng chẳn). Thời gian vay 6 tháng, bắt đầu từ ngày 29/9/2022 đến ngày 29/3/2023. Lãi suất là 0%/tháng. Và sau đây tôi:Phan Thanh T1 có đầu tư trên đất của bà Hồ Thị H1, số tài sản là: 02 kho lạnh, 03 hầm đông. Tôi xin vay và hứa theo thực hiện dưới đây:Nếu tới ngày tháng như tôi viết cam đoan ở trên, tôi không gửi lại số tiền vay 3.800.000.000 đồng(ba tỉ tám trăm triệu đồng), thì bà Trương Thị Hoàng T, có quyền thu hồi tài sản tôi đã đầu tư trên đất của bà Hồ Thị H1. Tôi xin cam đoan và chịu trách nhiệm trước pháp luật về toàn bộ số tiền vay này theo quy định của pháp luật và thỏa thuận theo văn bản này.”. (Bút lục số 150).

[3] Tại Sổ phụ tài khoản tiền gửi không kỳ hạn từ ngày 09/11/2022 đến ngày 10/11/2022 của Ngân hàng Thương mại Cổ phần V1 - Chi nhánh Q - Phòng G, có nội dung: “Tên khách hàng Trương Thị Hoàng T. Tài khoản:1821000002989000. Thời gian thực hiện:Ngày 09/11/2022. Ghi có:76.000.000 đồng. Diễn giải: Tính gửi chị T2 1; Và tại Sổ phụ tài khoản tiền gửi không kỳ hạn ngày 03/12/2022, có nội dung:“Tên khách hàng Trương Thị Hoàng T. Tài khoản: 1821000002989000. Thời gian thực hiện:Ngày 03/12/2022. Ghi có:76.000.000 đồng. Diễn giải:Tính gửi chị T2 11”. (Bút lục số 47).

[4] Giấy mượn tiền ngày 08/11/2023, có nội dung, như sau: “Tôi tên là: Phan Thanh T1, địa chỉ: C H, ấp C, T, B. Nay tôi mượn của chị Trương Thị Hoàng T. Địa chỉ: D N, Đ, Q. Số tiền 3.800.000.000 đồng. Thời hạn trả: Trong 03 năm: (11/2023 - 11/2026). Hôm nay, tôi nhận đủ số tiền, tôi viết giấy này để làm chứng từ...”. (Bút lục số 36).

[5] Giấy mượn tiền ngày 08/11/2023, có nội dung, như sau: “Tôi tên làPhan Thành T3, địa chỉ: C H, ấp C, T, B. Nay tôi mượn của chị Trương Thị Hoàng T. Địa chỉ: C N, Đ, Q. Số tiền 900.000.000 đồng. Thời hạn trả:Bắt đầu 2024 đến hết. Khoản tiền này là khoản tiền lãi, T3 cam kết chị T (76 tr/tháng), từ ngày 9/11/2022 - 9/11/2023.”.(Bút lục số 152).

[6] Điều 161 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, quy định: “1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân do Bộ luật này quy định có quyền khởi kiện vụ án dân sự, yêu cầu giải quyết vụ việc dân sự tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc người khác. 2. Tòa án không được từ chối yêu cầu giải quyết vụ việc dân sự, vì lý do chưa có đủ điều luật để áp dụng.”.

Tại Điều 186 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, quy định: “Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án (Sau đây gọi chung là người khởi kiện) tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình”.

[7] Đối chiếu với quy định pháp luật nêu trên, với sự thừa nhận của nguyên đơn bà Trương Thị Hoàng T và bị đơn ông Phan Thanh T1 và căn cứ Giấy vay tiền nêu tại mục [2], có cơ sở xác định ngày 29/9/2022, bà T cho ông T1 vay số tiền vốn gốc là 3.800.000.000 đồng(Ba tỷ tám trăm triệu đồng), thời gian vay là 06(Sáu) tháng, kể từ ngày 29/9/2022 đến ngày 29/3/2023. Khi hết thời hạn trả nợ (là ngày 30/3/2023), do ông T1 chưa có khả năng thanh toán số tiền vốn gốc nêu trên cho bà T nên ngày 08/11/2023, ông T1 làm lại Giấy xác nhận, còn nợ số tiền vốn gốc của bà T là 3.800.000.000 đồng(Ba tỷ tám trăm triệu đồng) và thời hạn trả nợ là trong 03(Ba) năm, kể từ tháng 11/2023 đến tháng 11/2026. Sau khi làm Giấy mượn tiền ngày 08/11/2023 thì từ ngày 30/11/2023 đến ngày 02/5/2024, ông T1 không thanh toán được đồng nào số tiền vốn gốc nêu trên cho bà T là đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán mà ông T1 đã cam kết với bà T tại Giấy mượn tiền ngày 08/11/2023. Do vậy, ngày 02/5/2024, bà T có quyền khởi kiện ông T1 tại Tòa án cấp sơ thẩm, để yêu cầu ông T1 phải có nghĩa vụ trả lại cho bà T số tiền nợ gốc 3.800.000.000 đồng(Ba tỷ tám trăm triệu đồng) là đúng theo quy định của pháp luật.

[8] Trong quá trình thu thập chứng cứ ở cấp sơ thẩm và tại phiên tòa sơ thẩm, bà T cho rằng hai bên thỏa thuận lãi suất 2%/tháng (tức 76.000.000 đồng/tháng). Sau khi vay, ông T1 chuyển cho bà được 02 tháng tiền lãi, mỗi tháng chuyển 76.000.000 đồng(Bảy mươi sáu triệu đồng) thì ngưng. Ngược lại, ông T1 khai khi vay số tiền 3.800.000.000 đồng(Ba tỷ tám trăm triệu đồng), hai bên không có thỏa thuận lãi suất; Còn đối với khoản tiền 76.000.000 đồng (Bảy mươi sáu triệu đồng) mà ông đã chuyển cho bà T 02 lần, mỗi lần chuyển 76.000.000 đồng(Bảy mươi sáu triệu đồng) vào ngày 09/11/2022 và ngày 03/12/2022 là số tiền ông hỗ trợ cho bà T, chứ không phải tiền lãi như bà T khai.

[8.1] Căn cứ Sổ phụ tài khoản tiền gửi không kỳ hạn từ ngày 09/11/2022 đến ngày 10/11/2022 và ngày 03/12/2022 của Ngân hàng Thương mại Cổ phần V1 - Chi nhánh Q - Phòng G nêu tại mục [3], thì có cơ sở xác định ngày 09/11/2022 và ngày 03/12/2022 thông qua Ngân hàng Thương mại Cổ phần V1 - Chi nhánh Q - Phòng giao dịch Đ thì ông T1 chuyển cho bà T 02 lần tiền, mỗi lần 76.000.000 đồng(Bảy mươi sáu triệu đồng) là tiền lãi, chứ không phải là tiền hỗ trợ như ông T1 khai; Và theo Giấy mượn tiền ngày 08/11/2023 nêu tại mục [5] thì có cơ sở xác định số tiền 900.000.0000 đồng(Chín trăm triệu đồng) là tiền lãi và thời hạn trả bắt đầu từ năm 2024 cho đến hết số tiền 900.000.000 đồng(Chín trăm triệu đồng). Sau khi làm Giấy xác nhận tiền lãi 900.000.000 đồng (Chín trăm triệu đồng) thì từ ngày 31/01/2024 cho đến ngày 02/5/2024, ông T1 không thanh toán được đồng nào tiền lãi cho bà T là đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán tiền lãi mà ông T1 đã cam kết với bà T tại Giấy vay mượn tiền ngày 08/11/2023 nêu tại mục [5]. Do vậy, ngày 02/5/2024, bà T có quyền khởi kiện ông T1 để yêu cầu ông T1 trả tiền lãi là đúng theo quy định của pháp luật nêu tại mục [6].

[8.2] Xét, Tòa án cấp sơ thẩm nhận định cho rằng việc bà T khai hai bên có thỏa thuận lãi suất 2%/tháng và ông T1 đã chuyển 02 lần tiền, lần 1 vào ngày 09/11/2022, ông T1 chuyển khoản vào tài khoản của bà T (Tuy nhiên, nội dung chuyển khoản chỉ thể hiện“Tính gưi chi tháng 1”; Lần 2 vào ngày 03/12/2022, ông T1 chuyển khoản 76.000.000 đồng vào tài khoản của bà T (Tuy nhiên, nội dung chuyển khoản chỉ thể hiện “Tính gửi chi thang 12” mà không nêu rõ đây là tiền lãi cho khoản vay 3.800.000.000 đồng, từ đó xác định hợp đồng vay 3.800.000.000 đồng(Ba tỷ tám trăm triệu đồng) giữa bà T và ông T1 là khoản vay không có lãi là không đúng như đã phân tích nêu tại mục [8.1]. Mặt khác, Tòa án cấp sơ thẩm cho rằng Giấy mượn tiền ngày 08/11/2023 là khoản vay có thời hạn trả nợ chậm nhất là tháng 11/2026, từ đó cho rằng bà T chưa đủ điều kiện khởi kiện ông T1 nên Đình chỉ giải quyết vụ án là không đúng như đã phân tích tại mục [6] và [7].

[9] Từ những phân tích trên, Hội đồng phúc thẩm, xét thấy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số: 320/2025/QĐST ngày 05 tháng 5 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh là không đúng nên bà T kháng cáo yêu cầu hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh để tiếp tục giải quyết vụ án là có cơ sở chấp nhận. Lập luận trên cũng là cơ sở không chấp nhận đề nghị giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

[10] Án phí dân sự phúc thẩm:Do kháng cáo của nguyên đơn bà Trương Thị Hoàng T được chấp nhận nên bà T không phải chịu.

H2 lại cho bà Trương Thị Hoàng T số tiền 300.000 đồng(Ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm.

Căn cứ vào Điều 314 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

QUYẾT ĐỊNH:

Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn là bà Trương Thị Hoàng T.

  1. Hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số:320/2025/QĐST-DS ngày 05 tháng 5 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh, về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, giữa:
  2. Nguyên đơn: Bà Trương Thị Hoàng T, sinh năm 1981.

    Địa chỉ: 2 H, Phường D, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Ủy quyền:

    1. Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1985;
    2. Địa chỉ: 2 H, Phường D, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

      (Giấy ủy quyền ngày 24/02/2025).

    3. Ông Nguyễn Khắc Trung K, sinh năm 1996;
    4. Địa chỉ: 2 H, Phường D, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

    5. Ông Nguyễn V, sinh năm 1997 – Đại diện.
    6. Địa chỉ: Phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế.

      (Giấy ủy quyền ngày 23/4/2025).

    Bị đơn: Ông Phan Thanh T1, sinh năm 1987.

    Địa chỉ: C (số D) ấp D, đường G, xã T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Ủy quyền ông Nguyễn Minh Đ, sinh năm 1995 - Đại diện.

    Địa chỉ: G L, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

    (Giấy ủy quyền ngày 26/02/2025).

  3. Chuyển hồ sơ vụ án về Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh để tiếp tục giải quyết vụ án.
  4. Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Trương Thị Hoàng T không phải chịu.
  5. H2 lại cho bà Trương Thị Hoàng T 300.000 đồng(Ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm mà bà T đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0052498 ngày 15/5/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.

  6. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.

Nơi nhận:

  • - TAND Tối cao;
  • - TAND cấp cao tại TP.HCM;
  • - VKSND cấp cao tại TP.HCM;
  • - VKSND TP.HCM;
  • - Cục THADS, TPHCM;
  • - TAND huyện Bình Chánh;
  • - Chi cục THADS huyện Bình Chánh;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu văn phòng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP

(đã ký)

Nguyễn Thị Thu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Quyết định số 717/2025/QĐ-PT ngày 30/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số quyết định: 717/2025/QĐ-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 30/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vay tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger