TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Số: 708/2025/QÐST-DS | Hà Nội, ngày 05 tháng 11 năm 2025 |
QUYẾT ĐỊNH
CÔNG NHẬN SỰ THỎA THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - HÀ NỘI
Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Hoàng Nam Hải.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Ngô Thùy Linh.
2. Ông Phùng Ngọc Toàn.
Căn cứ vào các Điều 212, 213, 235 và 246 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ hồ sơ vụ án dân sự thụ lý số 63/2025/TLST-DS ngày 02 tháng 4 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
XÉT THẤY:
Tại phiên tòa các đương sự thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án và thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Công nhận sự thoả thuận của các đương sự:
- Nguyên đơn: Công ty cổ phần D
Địa chỉ trụ sở: Thôn Thắng Thuận, xã Hàm Thắng, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.
Nay là: Thôn Thắng Thuận, phường Hàm Thắng, tỉnh Lâm Đồng.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phùng A TChủ tịch Hội đồng Quản trị.
Đại diện theo ủy quyền: Ngân hàng TMCP P
Địa chỉ: số C T, phường C, Hà Nội
Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Phạm Quang T1Ông Phạm Đức V - Chuyên viên Xử lý nợ.
- Bị đơn: Ông Trần Trọng Tuấn A1 năm 1969 và bà Nguyễn Thị Kim T năm 1972.
Cùng địa chỉ: Số A ngõ G phố T, phường H, Hà Nội
2. Sự thoả thuận của các đương sự cụ thể như sau:
2.1. Nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với số nợ gốc: 1.500.000.000 đồng.
2.2. Tính đến ngày 05/11/2025, ông Trần Trọng Tuấn A2 bà Nguyễn Thị K T2còn nợ Công ty cổ phần D1: Hợp đồng tín dụng số 10140/21MB/HĐTD ngày 19/05/2021 kèm theo Đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 10140/21MB/HĐTD/KUNN01 ngày 21/05/2021; Hợp đồng tín dụng số 19834/23MB/HĐTD ngày 26/10/2023 kèm theo Đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 19834/23MB/HĐTD/KUNN01 ngày 27/10/2023; Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng cá nhân kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 19/07/2021 tổng số tiền là: 2.339.745.594 đồng (hai tỷ ba trăm ba mươi chín triệu bảy trăm bốn mươi lăm nghìn năm trăm chín tư đồng). Trong đó:
Nợ gốc: 1.406.727.249 đồng.
Nợ lãi: 697.868.880 đồng.
Nợ lãi chậm trả: 235.149.464 đồng.
2.3. Công ty cổ phần D và ông Trần Trọng Tuấn A3 Nguyễn Thị Kim T2thống nhất thỏa thuận phương án trả nợ như sau:
- Đến hết ngày 22/11/2025, ông Trần Trọng Tuấn A2 bà Nguyễn Thị Kim T1 được cho Công ty cổ phần D số tiền 2.000.000.000 đồng thì được miễn toàn bộ số tiền lãi còn lại.
- Nếu đến ngày 22/11/2025, ông Trần Trọng Tuấn A2 bà Nguyễn Thị Kim T2 trả được số tiền 2.000.000.000 đồng cho Công ty cổ phần D thì ông T3 Avà bà T2không được miễn lãi và phải trả toàn bộ số tiền 2.339.745.594 đồng còn nợ Công ty cổ phần D tính đến ngày 05/11/2025 nêu trên.
Kể từ ngày 06/11/2025, ông Tuấn A4 và bà T4 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số nợ gốc chưa thanh toán, lãi chậm trả theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số 10140/21MB/HĐTD ngày 19/05/2021 kèm theo Đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 10140/21MB/HĐTD/KUNN01 ngày 21/05/2021; Hợp đồng tín dụng số 19834/23MB/HĐTD ngày 26/10/2023 kèm theo Đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 19834/23MB/HĐTD/KUNN01 ngày 27/10/2023; Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng cá nhân kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 19/07/2021 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này.
Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
- Kể từ ngày Quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật, nếu ông Tuấn A4 và bà T2không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thanh toán các khoản tiền nợ nêu trên thì Công ty cổ phần D2 quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm theo quy định của pháp luật để thu hồi nợ gồm: Toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất, tại thửa đất số 45 tờ bản đồ số 6, ở địa chỉ thửa đất: tổ B cụm C phường T, quận T, thành phố H giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 10103071173, hồ sơ gốc số: 14281.2001/2476.2001.QĐUB do UBND thành phố Hcấp ngày 03/5/2001. Ngày 16/11/2010, Văn phòng đăng ký đất và nhà quận T nhận chuyển nhượng cho ông Trần Trọng Tuấn A2 bà Nguyễn Thị Kim T2theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất số 10140/21MB/HĐBĐ, số công chứng: 03211.2021/CCHH/HĐTC, quyển số 14 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 19/5/2021.
2.4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Trần Trọng Tuấn A2 bà Nguyễn Thị Kim T5 chịu: 78.795.000 đồng (đã làm tròn số) án phí dân sự sơ thẩm.
Công ty cổ phần D3 phải chịu án phí và được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp 51.453.698 đồng theo Biên lai số 0031317 ngày 01/4/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Ba Đình (Nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 1 - Hà Nội).
3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
4. Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, điều 7, 7a và điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Nam Hải |
Quyết định số 708/2025/QÐST-DS ngày 05/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số quyết định: 708/2025/QÐST-DS
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/11/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Công nhận sự thoả thuận của các đương sự: - Nguyên đơn: Công ty cổ phần D - Bị đơn: Ông Trần Trọng Tuấn A1 năm 1969 và bà Nguyễn Thị Kim T năm 1972.
