TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ THÀNH PHỐ HÀ NỘI Bản án số: 70/2024/HS-ST Ngày: 07/5/2024 | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Mạnh Hải
Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Đức Thành
2. Bà Trương Thị Thái (Giáo viên nghỉ hưu)
Thư ký phiên toà: Bà Đoàn Thị Phương Thảo - Thư ký TAND huyện Thanh Trì
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì tham gia phiên toà:
Ông Tô Xuân Tùng - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 5 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 68/2024/HSST ngày 12/4/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 68/2024/QĐXX-HSST ngày 12/4/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 18/HSST-QĐ ngày 26/4/2024 đối với các bị cáo:
1. PHẠM XUÂN H4, sinh năm 1990; Giới tính: Nam; ĐKHK và ở tại: xóm M, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: tự do; Văn hoá: 9/12; con ông Phạm Xuân T; con bà Sư Thị H1; Vợ là: Phạm Thị T1; có 02 con sinh các năm 2016, 2018; D chỉ bản: 000000002, lập ngày 03/01/2024, Công an huyện T; Tiền án, tiền sự: không; Vụ án này, bị cáo bắt tạm giam từ ngày 02/01/2024 đến ngày 03/02/2024 hủy bỏ tạm giam. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2. S1, sinh năm 1996; Giới tính: Nam; ĐKHK và ở tại: xóm M, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: tự do; Văn hoá: 12/12; con ông Sư Hữu C; con bà Lương Thị H2; D chỉ bản: 000000003, lập ngày 03/01/2024, Công an huyện T; Tiền án, tiền sự: không; Vụ án này, bị cáo bắt tạm giam từ ngày 02/01/2024 đến ngày 03/02/2024 hủy bỏ tạm giam. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người đại diện theo ủy quyền bào chữa tại phiên tòa: ông Nguyễn Trọng T2, sinh năm 1965; Trú tại: Xóm G, xã M, Đ, Nghệ An. (vắng mặt)
3. NGUYỄN VĂN D1, sinh ngày 14/6/2006; Giới tính: Nam; ĐKHK và ở tại: xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Nghề nghiệp: tự do; Văn hoá: 9/12; con ông Nguyễn Văn K; con bà Nguyễn Thị L; D chỉ bản: 000000018, lập ngày 04/01/2024, Công an huyện T; Tiền án, tiền sự: không; Vụ án này, bị cáo bắt tạm giam từ ngày 04/01/2024 đến ngày 03/02/2024 hủy bỏ tạm giam. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Đại diện hợp pháp cho bị cáo: ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1984 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1984 (bố mẹ đẻ bị cáo); Cùng trú tại: xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. (có mặt bà Nguyễn Thị L)
Người bào chữa cho bị cáo: bà Nguyễn Thị Thủy S – Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Thành phố H. (có mặt)
4. LÊ HỒNG P24, sinh ngày 18/3/2006; Giới tính: Nam; ĐKHK và ở tại: thôn B, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Nghề nghiệp: tự do; Văn hoá: 7/12; con ông Lê Văn V; con bà Phạm Thị N; D chỉ bản: 000000019, lập ngày 04/01/2024, Công an huyện T; Tiền án, tiền sự: không; Vụ án này, bị cáo bắt tạm giam từ ngày 04/01/2024 đến ngày 03/02/2024 hủy bỏ tạm giam. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Đại diện hợp pháp cho bị cáo: ông Lê Văn V, sinh năm 1970 và bà Phạm Thị N, sinh năm 1970 (bố mẹ đẻ bị cáo); Cùng trú tại: xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. (có mặt ông Lê Văn V)
Người bào chữa cho bị cáo: bà Nguyễn Thị Thủy S – Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Thành phố H. (có mặt)
5. NGUYỄN ĐÌNH Đ24, sinh ngày 12/10/2006; Giới tính: Nam; ĐKHK và ở tại: xã T, huyện T, TP Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: tự do; Văn hoá: 10/12; con ông Nguyễn Đình T3; con bà Trần Thị T4; D chỉ bản: 000000017, lập ngày 04/01/2024, Công an huyện T; Tiền án, tiền sự: không; Vụ án này, bị cáo bắt tạm giam từ ngày 04/01/2024 đến ngày 03/02/2024 hủy bỏ tạm giam. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Đại diện hợp pháp cho bị cáo: ông Nguyễn Đình T3, sinh năm 1978 và bà Trần Thị T4, sinh năm 1982 (bố mẹ đẻ bị cáo); Cùng trú tại: xã T, huyện T, TP Hà Nội. (có mặt bà Trần Thị T4)
Người bào chữa cho bị cáo: bà Nguyễn Thị Thủy S – Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Thành phố H. (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 8h00 ngày 30/10/2023, do có mâu thuẫn tình cảm, Hoàng Khắc T5 đi đến quán phở C1 ở phường Đ, quận H, Hà Nội để tìm chị Trương Thị Thanh H3 (SN: 2005, Nơi cư trú: xã V, huyện Q, Nghệ An) để nói chuyện nhưng không gặp được chị H3 và bị đuổi ra ngoài vì trước đây T5 đã nhiều lần đến quán để gây rối. Khi đi ra ngoài khoảng 10m, Trường quay lại chửi bới và thách thức đánh nhau với nhân viên của quán. Lúc này Nguyễn Đình Đ đang trông xe ở ngoài, anh Trần Văn M (SN: 1995, Nơi cư trú: xã T, huyện N, Hà Tĩnh) và Lê Hồng P là nhân viên của quán đi từ trong quán ra. Thấy T5 chửi bới, Đ, M và P đi theo T5 và đấm đá bằng tay chân không vào người T5 vài cái thì T5 bỏ chạy sang bên kia đường. Khi thấy T5 bỏ chạy thì cả ba không đuổi theo và vào quán làm việc tiếp. Đến trưa cùng ngày, T5 dùng tài khoản Facebook nhắn tin cho P, Đ, Nguyễn Văn D1 và Nguyễn Quốc V1, hẹn đánh nhau để giải quyết mâu thuẫn.
Khoảng 18h30', ngày 30/10/2023, Phạm Xuân H4 đi làm về phòng trọ tại thôn T, xã H, huyện T, Hà Nội thì gặp Hoàng Khắc T5 và Sư Hữu Đ1 là bạn cùng phòng trọ, cả ba cùng ngồi ăn cơm với nhau. Trong khi ăn, T5 kể cho Đ1 và H4 về việc buổi sáng bị nhóm nam thanh niên đánh ở quán P1, phường Đ, quận H, Hà Nội. T5 bị tím ở mắt phải và đầu phải. Khoảng 19h30' cùng ngày, T5 gọi facebook cho D1 hẹn ra khu vực Cầu D, xã T, huyện T, Hà Nội để đánh nhau. D1, P, Đ, V1 đồng ý. T5 rủ rê H4 và Đ1 đi cùng thì H4 và Đ1 đồng ý. T5 đi ra điểm hẹn trước, H4 quay về nhà lấy một con dao dài khoảng 35 cm, lưỡi dao bằng kim loại rộng khoảng 10cm (loại dao phay chặt thịt) cất giấu vào túi áo trong phía trước bên phải, rồi chở Đ1 ra điểm hẹn. Khi ra đến nơi thì chưa thấy ai nên H4, Đ1 và T5 ngồi uống nước. H4 ngồi cùng Đ1 còn T5 ngồi riêng một bàn. Cùng lúc đó thì Đ, D1, P, V1 cùng đi bộ ra điểm hẹn tại quán trà đá ở khu vực cầu D, xã T, T, Hà Nội. Khi đi thì Đ và P đi tay không đi trước, D1 và V1 đi phía sau, mỗi người cầm một thanh sắt hộp dài khoảng 70cm. Khi ra đến nơi thì Đ, P nhìn thấy T5, H4 và Đ1 đang ngồi trong quán trà đá; Đ, P lao vào đánh T5, Đ dùng tay đấm vào đầu T5 một cái thì bị Đ1 dùng một cái điếu cày vụt một phát vào đầu, H4 rút dao trong người ra và chém loạn xạ về phía Đ và P, trúng vào phía sau mang tai của P. Đ bỏ chạy về ngõ D đường K còn Đ1 cầm điều cày đuổi theo, chạy được một đoạn thì người dân ra can ngăn và giữ Đ1 lại. Khi thấy P bị chém, D1 cầm sắt hộp lao vào vụt trúng một phát vào phần trên mí mắt bên phải của H4; H4 vung dao chém lại và trúng vào ngón cái tay phải và khuỷu tay phải của D1. Cùng thời điểm trên, P chạy lại chỗ V1 đang đứng giằng lấy thanh sắt hộp ở tay V1 rồi lao vào đánh nhau với T5; P và T5 vật nhau ra đường; Sau đó P bỏ chạy thì T5 đuổi theo và vật P ra rồi nhặt 01 viên gạch để đánh vào đầu P. Khi thấy P và T5 đánh nhau, H4 chạy tới cầm dao chém P thì được người dân can ngăn và báo công an thì hai nhóm không đánh nhau nữa.
Ngày 31/10/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T tiến hành khám nghiệm hiện trường, thu giữ 01 thanh sắt hình hộp vuông dài khoảng 70cm, 01 điếu cày bằng gỗ dài khoảng 70cm. Ngoài ra tạm giữ của Phạm Xuân H4 01 con dao dài khoảng 35 cm, lưỡi dao bằng kim loại rộng khoảng 10cm (loại dao phay chặt thịt); 01 con dao màu vàng dài khoảng 20cm (loại dao dọc giấy).
Tại Cơ quan điều tra, Đ1, H4, P, D1, Đ khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Các bị cáo đều từ chối giám định thương tích và không có yêu cầu, đề nghị gì về thương tích của mình.
Do hành vi của các đối tượng gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự trên địa bàn nên Ủy ban nhân dân xã T có công văn số 470/UBND ngày 25/12/2023 đề nghị các cơ quan Tố tụng huyện T xử lý các đối tượng trên về hành vi gây rối trật tự công cộng theo quy định của pháp luật.
Đối với Hoàng Khắc T5: Cục Q – Bộ C2 có văn bản số 34300/QLXNC-P3 ngày 18/12/2023 trả lời Cơ quan CSĐT Công an huyện T về việc ngày 30/10/2023, Hoàng Khắc T5 đã xuất cảnh qua cửa khẩu N1, hiện chưa có thông tin nhập cảnh. Hiện không xác định được bị can đang ở đâu nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T tách vụ án, tạm đình chỉ điều tra vụ án đối với bị can và ra quyết định truy nã đối với T5 để tiếp tục điều tra làm rõ.
Đối với hành vi của Nguyễn Quốc V1: có dấu hiệu của tội Gây rối trật tự công cộng quy định tại khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự, là tội phạm nghiêm trọng, tuy nhiên, tại thời điểm phạm tội là ngày 30/10/2023, V1 15 tuổi 11 tháng 8 ngày, chưa đủ 16 tuổi, do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T không xử lý hình sự và ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính.
Đối với hành vi của Lê Hồng P, Nguyễn Đình Đ và Trần Văn M sử dụng tay chân không đánh Hoàng Khắc T5 tại khu vực trước cửa quán phở C1 ở Đ, H, Hà Nội: qua xác minh không tiếp nhận tin báo, tố giác tội phạm liên quan đến việc làm ảnh hưởng an ninh, trật tự tại địa phương. Về thương tích của Hoàng Khắc T5: do T5 đang bỏ trốn, không thể tiến hành giám định thương tích nên chưa có căn cứ xử lý, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T tách hành vi trên của các đối tượng để tiếp tục xác minh, làm rõ.
Về Dân sự; bị cáo H4 đã bồi thường thiệt hại xong cho P 16 triệu đồng.
Tại bản cáo trạng số 61/CT-VKS-TT ngày 05/4/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì đã truy tố Phạm Xuân H4, Sư Hữu Đ1, Nguyễn Đình Đ, Lê Hồng P, Nguyễn Văn D1 về tội Gây rối trật tự công cộng quy định tại điểm b, khoản 2, Điều 318 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa: Các bị cáo Phạm Xuân H4, Sư Hữu Đ1, Nguyễn Đình Đ, Lê Hồng P, Nguyễn Văn D1 đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng Viện kiểm sát đã công bố, thái độ ăn năn hối cải. Các bị cáo cùng xin giảm nhẹ hình phạt.
Người bào chữa cho các bị cáo Đ, P, D1 có ý kiến: Không có ý kiến đối với tội danh Viện kiểm sát đã truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét nguyên nhân dẫn đến hành vi gây rối không phải do các bị cáo mà là do T5. Các bị cáo Đ, P, D1 phạm tội lần đầu và ở độ tuổi vị thành niên. Bố bị cáo Đ đau ốm nhiều năm, gia đình khó khăn. Bị cáo D1 có ông nội là người có công với cách mạng, Do vậy đề nghị cho cả 03 bị cáo này được hưởng mức án thấp nhất của khung hình phạt.
Đại diện hợp pháp cho các bị cáo Đ, P, D1 cùng xác nhận lời khai của các bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra. Đại diện hợp pháp cho các bị cáo đều cam đoan, bảo lãnh tiếp tục giáo dục các bị cáo và cùng đề nghị Hội đồng xét xử cho các bị cáo mức án thấp nhất, được cải tạo ngoài xã hội.
Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo Phạm Xuân H4, Sư Hữu Đ1, Nguyễn Đình Đ, Lê Hồng P, Nguyễn Văn D1 theo tội danh và điều luật được viện dẫn trong bản Cáo trạng số 61/CT-VKS-TT ngày 05/4/2024 và đề nghị:
Áp dụng điểm b, khoản 2, Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; (đối với H4 áp dụng thêm điểm b khoản 1 Điều 51); (đối với Đ, D1, P thì áp dụng thêm Điều 91; Điều 101); Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt các bị cáo Phạm Xuân H4, Sư Hữu Đ1 từ 30 tháng tù đến 36 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, hạn thử thách 60 tháng kể từ ngày tuyên án.
Xử phạt các bị cáo Nguyễn Đình Đ, Lê Hồng P, Nguyễn Văn D1 từ 24 tháng tù đến 28 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, hạn thử thách từ 48 tháng đến 56 tháng kể từ ngày tuyên án.
Vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 02 con dao, 01 thanh sắt hộp và 01 điếu cày bằng gỗ thu giữ của các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến, khiếu nại hành vi, quyết định tố tụng. Do vậy, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật.
[2]Về tội danh: Lời khai của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai người người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ đủ cơ sở kết luận:
Trong khoảng thời gian từ 20 giờ 40 phút đến 20 giờ 50 phút, ngày 30/10/2023, tại khu vực Cầu D, xã T, huyện T, Hà Nội, do Hoàng Khắc T5 khởi xướng, rủ rê, lôi kéo, kích động, Phạm Xuân H4, Sư Hữu Đ1, Nguyễn Đình Đ, Lê Hồng P, Nguyễn Văn D1 đã sử dụng hung khí gồm dao, điếu cày gỗ và gậy sắt đuổi đánh nhau gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình an ninh trật tự trên địa bàn, gây hoang mang lo sợ trong quần chúng nhân dân. Ngày 25/12/2023, UBND xã T, huyện T, Hà Nội đã có công văn số 470/UBND đề nghị các cơ quan tố tụng huyện T xử lý các đối tượng trên về hành vi gây rối trật tự công cộng. Đối với Hoàng Khắc T5 hiện đang truy nã nên sẽ xử lý sau.
Do vậy, Hành vi của Phạm Xuân H4, Sư Hữu Đ1, Nguyễn Đình Đ, Lê Hồng P, Nguyễn Văn D1 đã phạm vào tội “Gây rối trật tự công cộng” tội danh và hình phạt quy định tại điểm b, khoản 2, Điều 318 Bộ luật hình sự.
[3] Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Các bị cáo H4, Đ1, Đ, P, D1 đều không có tình tiết tăng nặng.
- Tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo H4, Đ1, Đ, P, D1 cùng có thái độ khai báo thành khẩn thể hiện sự ăn năn hối cải, nhân thân các bị cáo đều chưa có tiền án, tiền sự nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo H4 đã bồi thường, khắc phục hậu quả cho bị cáo P nên H4 được áp dụng thêm điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[4] Trách nhiệm hình sự và hình phạt: các bị cáo Phạm Xuân H4, Sư Hữu Đ1, Nguyễn Đình Đ, Lê Hồng P, Nguyễn Văn D1 có độ tuổi và đủ năng lực, nhận thức để biết việc gây rối trật tự tại cộng đồng dân cư và sử dụng hung khí đánh nhau là hành vi nguy hiểm, đe dọa tính mạng, sức khỏe người khác và gây mất trật tự an ninh. Nhưng do bị đối tượng Hoàng Khắc T5 thách thức, kích động, rủ rê, lôi kéo, các bị cáo đã tụ tập đuổi, đánh nhau gây hoang mang lo sợ cho cộng đồng dân cư tại địa bàn xã T, huyện T, Hà Nội. Tuy không phải vai trò chủ mưu, khởi xướng, nhưng hành vi phạm tội của các bị cáo được thực hiện với lỗi chủ quan, cố ý, thể hiện ý thức coi thường pháp luật, xâm hại đến trật tự an toàn xã hội được pháp luật bảo vệ. Do vậy, căn cứ tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, xét thấy cần xử phạt các bị cáo mức án nghiêm khắc mới đủ tác dụng cải tạo, giáo dục và đáp ứng công tác răn đe phòng ngừa chung. Tuy nhiên, khi lượng hình, Hội đồng xét xử có xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất, vai trò, độ tuổi của từng bị cáo để ấn định mức hình phạt tương xứng, cụ thể:
Tại thời điểm phạm tội, Phạm Xuân H4 33 tuổi và Sư Hữu Đ1 27 tuổi nên các bị cáo này đã đủ tuổi để nhận thức được hành vi và tính nguy hiểm của hành vi đối với xã hội. Khi thấy Đ và P dùng tay không lao vào đánh T5 thì H4 và Đ1 đã dùng dao và điếu cày gỗ tại quán nước để đánh lại thể hiện ý thức quyết liệt, do vậy cần thiết phải xử phạt cả 02 bị cáo này với mức hình phạt tương đương nhau và cao hơn các bị cáo còn lại. Tuy nhiên, mức độ gây thương tích cho P, D1, Đ không lớn, thời gian xảy ra đánh nhau ngắn, hơn 10 phút, bị cáo H4 có 02 tình tiết giảm và bị cáo Đ1 có 01 tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 51 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự và cùng không có tình tiết tăng nặng. Vai trò tham gia do bị lôi kéo, không phải đối tượng chủ mưu, khởi xướng. Cả hai bị cáo này đều có nơi cư trú rõ ràng và có công việc làm ổn định. Do vậy, xét thấy không cần thiết cách ly 02 bị cáo này ra khỏi xã hội, cho bị cáo H4, bị cáo Đ1 được hưởng án treo và chịu thời gian thử thách để có cơ hội lao động, cải tạo ngoài xã hội và thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.
Đối với các bị cáo Nguyễn Đình Đ, Lê Hồng P, Nguyễn Văn D1 sau khi bị T5 thách thức, kích động đã cùng chuẩn bị gậy sắt để tham gia đánh nhau. Khi gặp T5, P và Đ đã dùng tay không xông vào đánh T5 dẫn đến việc các bên đánh nhau, đuổi nhau gây mất trật tự công cộng. Do vậy vai trò của cả 03 bị cáo này là tương đương nhau nên mức hình phạt của cả 03 bị cáo này là như nhau. Tuy nhiên, tại thời điểm phạm tội, Đ mới 17 tuổi, 18 ngày; P mới 17 tuổi, 07 tháng, 12 ngày; D1 mới 17 tuổi, 04 tháng, 16 ngày nên các bị cáo đều ở độ tuổi vị thành niên, nhận thức về hành vi và pháp luật chưa đầy đủ nên mới dẫn đến hành vi gây rối trật tự công cộng. Khi tham gia đánh nhau, các bị cáo này chỉ dùng tay không cho đến khi bị H4 và Đ1 dùng hung khí đánh mới sử dụng gậy sắt để phản kháng. Bị cáo P, Đ, D1 cùng không có tình tiết tăng nặng. Các bị cáo đều có 01 tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo D1 có ông nội là người có công với Cách mạng. Bị cáo Đ có bố đẻ ốm nặng, gia đình khó khăn. Cả 03 bị cáo này đều có nơi cư trú rõ ràng và có công việc làm ổn định. Tại phiên tòa, đại diện hợp pháp cho cả 03 bị cáo này đều cam đoan, bảo lãnh tiếp tục giáo dục các bị cáo. Do vậy, xét thấy không cần thiết cách ly 03 bị cáo này ra khỏi xã hội, cho các bị cáo P, Đ, D1 được hưởng án treo và chịu thời gian thử thách để có cơ hội lao động, cải tạo ngoài xã hội và thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.
[5] Tang vật vụ án và án phí:
- Về vật chứng: Đối với 02 con dao, 01 thanh sắt hộp và 01 điếu cày bằng gỗ thu giữ của các bị cáo là hung khí gây án nên cần tịch thu tiêu hủy.
- Về án phí: Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Các bị cáo, đại diện hợp pháp cho các bị cáo, người bào chữa cho bị cáo P, Đ, D1 được quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Các bị cáo Phạm Xuân H4, Sư Hữu Đ1, Nguyễn Đình Đ, Lê Hồng P, Nguyễn Văn D1 - Phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”
Căn cứ: điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; (đối với H4 áp dụng thêm điểm b khoản 1 Điều 51); (đối với Đ, P và D1 thì áp dụng thêm Điều 91; Điều 101); Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt:
- Phạm Xuân H4 30 (Ba mươi) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” nhưng cho hưởng án treo, hạn thử thách 60 tháng kể từ ngày tuyên án. Giao Phạm Xuân H4 về Ủy ban nhân dân xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành án.
- S1 (Ba mươi) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” nhưng cho hưởng án treo, hạn thử thách 60 tháng kể từ ngày tuyên án. Giao Sư Hữu Đ1 về Ủy ban nhân dân xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành án.
- Nguyễn Đình Đ 24 (Hai mươi bốn) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” nhưng cho hưởng án treo, hạn thử thách 48 tháng kể từ ngày tuyên án. Giao Nguyễn Đình Đ về Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, Thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành án.
- Lê Hồng P 24 (Hai mươi bốn) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” nhưng cho hưởng án treo, hạn thử thách 48 tháng kể từ ngày tuyên án. Giao Lê Hồng P về Ủy ban nhân dân xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành án.
- Nguyễn Văn D1 24 (Hai mươi bốn) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” nhưng cho hưởng án treo, hạn thử thách 48 tháng kể từ ngày tuyên án. Giao Nguyễn Văn D1 về Ủy ban nhân dân xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành án.
*/Trường hợp Phạm Xuân H4, Sư Hữu Đ1, Nguyễn Đình Đ, Lê Hồng P, Nguyễn Văn D1 thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu Phạm Xuân H4, Sư Hữu Đ1, Nguyễn Đình Đ, Lê Hồng P, Nguyễn Văn D1 cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc Phạm Xuân H4, Sư Hữu Đ1, Nguyễn Đình Đ, Lê Hồng P, Nguyễn Văn D1 phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Căn cứ: Điều 106; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị Quyết số 326/2016/ UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án và danh mục kèm theo.
*/Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 thanh sắt hình hộp vuông dài khoảng 70cm; 01 điếu cày bằng gỗ dài khoảng 70cm; 01 con dao dài khoảng 35 cm, lưỡi dao bằng kim loại rộng khoảng 10cm; 01 con dao màu vàng dài khoảng 20cm hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Trì theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng chứng ngày 23/4/2024.
*/Án phí: Các bị cáo Phạm Xuân H4, Sư Hữu Đ1, Nguyễn Đình Đ, Lê Hồng P, Nguyễn Văn D1, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.Các bị cáo và đại diện hợp pháp cho các bị cáo, người bào chữa cho bị cáo P, bị cáo D1, bị cáo Đ được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận bản án:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Mạnh Hải |
Quyết định số 70/2024/HS-ST ngày 07/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ – THÀNH PHỐ HÀ NỘI về gây rối trật tự công cộng
- Số quyết định: 70/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Gây rối trật tự công cộng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hình sự
