|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
|
Số: 69/2023/QĐST- HNGĐ |
Hà Tĩnh, ngày 31 tháng 5 năm 2023 |
QUYẾT ĐỊNH
GIẢI QUYẾT VIỆC HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH
(V/v yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn)
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
Thành phần giải quyết việc Hôn nhân gia đình:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Bùi Văn Lam
Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Hải Thuần
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên họp: Bà Hồ Thị Thùy Linh - Kiểm sát viên
Ngày 31 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh, mở phiên họp công khai giải quyết việc Hôn nhân gia đình thụ lý số 61/2023/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 4 năm 2023 về việc “Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn”, theo Quyết định mở phiên họp số 63/2023/QĐ-TA ngày 17 tháng 5 năm 2023 bao gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc Hôn nhân gia đình:
1. Chị Vi Thị T, sinh năm 1984
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chổ ở hiện nay: Thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt
2. Anh Trần Văn T, sinh năm 1986
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú trước khi xuất cảnh: Thôn 1, xã X, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh
Chổ ở hiên nay: Phòng 102ho, tòa 22-3, quận Jeongwangcheon ro 375beon - gil, thành phố Siheung - Si, tỉnh Gyeonggi - do, Hàn Quốc. Vắng mặt
NỘI DUNG VIỆC HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH:
Theo nội dung đơn khởi kiện, bản tự khai của chị Vi Thị T và văn bản trình bày ý kiến của anh Trần Văn T và quá trình giải quyết chị T và anh T trình bày thống nhất như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Vi Thị T và anh Trần Văn T đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 03/01/2013 tại Ủy ban nhân dân xã X, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh trên cơ sở tự nguyện và không bị ai ép buộc. Sau khi kết hôn, hai vợ chồng chung sống hạnh phúc với nhau cho đến năm 2017 thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn sau khi anh T đi lao động tại Hàn Quốc, do khoảng cách về địa lý, mỗi người một nơi, vợ chồng không có điều kiện chia sẽ cùng nhau nên thường xuyên bất đồng quan điểm sống, không tin tưởng lẫn nhau cũng như cuộc sống dần không tìm thấy tiếng nói chung dẫn đến không còn quan tâm cũng như không còn tình cảm với nhau. Hiện nay anh Trần Văn T đang sinh sống và lao động tại Hàn Quốc. Nhận thấy tình cảm không còn, không mong muốn tiếp tục duy trì quan hệ vợ chồng nên chị Vi Thị T và anh Trần Văn T đều thống nhất ly hôn.
Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, chị Vi Thị T và anh Trần Văn T có 01 con chung là Trần Vi B, sinh ngày 24/01/2016. Hiện nay cháu đang sinh sống cùng với chị Vi Thị T tại Thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa. Chị T và anh T đều thống nhất giao con chung Trần Vi B cho chị Vi Thị T trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành. Về cấp dưỡng nuôi con chị T và anh T tự thỏa thuận với nhau không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết
Ngoài ra, chị Vi Thị T và anh Trần Văn T xin được vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ việc; anh Trần Văn T ủy quyền việc giao nhận tài liệu, chứng cứ cho chị Phan Thị N; địa chỉ: Xóm 5, xã H, thành phố V, tỉnh Nghệ An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh sau khi nhận xét việc chấp hành pháp luật của thẩm phán, thư ký và các đương sự đã phân tích nội dung vụ việc, các vấn đề đương sự đã thỏa thuận thống nhất được với nhau đã đề nghị Tòa án áp dụng Điều 369, Điều 370 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, khoản 1 Điều 51, 55, 57, 81, 82, 83, 123, 127 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Nghị quyết 326/2016/UBTVQHH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội chấp nhận yêu cầu của các đương sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc Hôn nhân gia đình; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp; Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh nhận định:
[1] Thủ tục tố tụng:
Anh Trần Văn T hiện đang sinh sống, lao động tại Hàn Quốc có xác nhận của Đại sứ quán Việt Nam tại Hàn Quốc nên vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh theo quy định tại Điều 29, Điều 37, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Chị Vi Thị T và anh Trần Văn T xin được vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ việc; anh Trần Văn T ủy quyền việc giao nhận tài liệu chứng cứ cho chị Phan Thị Ngọc; địa chỉ: Xóm 5, xã Hưng Chính, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An. Căn cứ quy định tại Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành mở phiên họp giải quyết việc Hôn nhân gia đình vắng mặt chị Vi Thị T và anh Trần Văn T theo thủ tục chung.
[2] Về nội dung:
[2.1] Quan hệ hôn nhân: Chị Vi Thị T và anh Trần Văn T đã tuân thủ các điều kiện kết hôn và đã đăng ký kết hôn vào ngày 03/01/2013 tại Ủy ban nhân dân xã X, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh. Căn cứ quy định Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì đây là hôn nhân hợp pháp.
Sau khi kết hôn, cuộc sống chung của chị Vi Thị T và anh Trần Văn T hạnh phúc được một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn là quan điểm sống không hòa hợp, vợ chồng không còn tìm thấy tiếng nói chung dẫn đến tình cảm không còn, mục đích xây dựng hạnh phúc gia đình không đạt được. Nay, chị T và anh T đều tự nhận thấy mâu thuẫn đã trầm trọng và không mong muốn tiếp tục duy trì mối quan hệ này.
Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 quy định “Vợ, chồng hoặc cả hai có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn” (khoản 1 Điều 51); “Trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thỏa thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở đảm bảo quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án công nhận thuận tình ly hôn....” (Điều 55).
Như vậy, chị Vi Thị T và anh Trần Văn T đã tự nguyện thỏa thuận ly hôn. Căn cứ quy định tại Điều 55 Luật Hôn nhân gia đình, công nhận sự thỏa thuận này của các đương sự.
[2.2] Quan hệ con chung: Trong thời kỳ hôn nhân chị Vi Thị T và anh Trần Văn T có 01 con chung là Trân Vi B, sinh ngày 24/01/2016. Hiện nay cháu đang sống cùng chị T tại thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa. Anh Trần Văn T đang sinh sống và lao động ở nước ngoài không thể trực tiếp thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình đối với con chung. Chị T và anh T đều thống nhất giao con chung Trần Vi B cho chị Vi Thị T trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành. Chị T và anh T tự thỏa thuận với nhau về cấp dưỡng nuôi con chung không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
Xét thấy sự thống nhất, thỏa thuận của các đương sự là phù hợp, đúng quy định pháp luật nên cần căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 chấp nhận sự thỏa thuận của các đương sự.
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu nên miễn xét.
Xét thấy, sự thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện, đúng pháp luật, không vi phạm điều cấm. Mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, không có khả năng đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được, nên cần công nhận sự thuận tình ly hôn của chị Vi Thị T và anh Trần Văn T.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 51, 55, 57, 81, 82, 83, 123, 127 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014, các Điều 361, 367, 369, 370, 371, Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 35, 37 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án:
- Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Vi Thị T và anh Trần Văn T
- Về con chung: Giao con chung Trần Vi B, sinh ngày 24/01/2016 cho chị Vi Thị T trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành hoặc đến khi có sự thay đổi về quyền nuôi con. Anh Trần Văn T có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung không được ai ngăn cản. Về cấp dưỡng nuôi con chị T và anh T tự thỏa thuận với nhau không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Chấp nhận sự tự nguyện nộp 300.000₫ lệ phí ly hôn sơ thẩm của chị Vi Thị T nhưng được trừ số tiền 300.000₫ chị T đã nộp theo biên lai số 0000517 ngày 21/4/2023 tại Cục thi hành án Dân sự tỉnh Hà Tĩnh.
Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu giải quyết việc Hôn nhân và gia đình không có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát cùng cấp, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp không có quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm đối với Quyết định này.
Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay.
|
Nơi nhận
|
THẨM PHÁN- CHỦ TRÌ PHIÊN HỌP Bùi Văn Lam |
Quyết định số 69/2023/QĐST- HNGĐ ngày 31/05/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH về yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn
- Số quyết định: 69/2023/QĐST- HNGĐ
- Quan hệ pháp luật: Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/05/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Vi Thị T và anh Trần Văn T
