|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N TỈNH ĐIỆN BIÊN Bản án số: 67/2024/HS-ST Ngày: 28-8-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Sao
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Khoàng Văn Sơn
2. Ông Chảo Phù Hiển.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Hùng - Thư ký Tòa án nhân dân
huyện N, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Điện Biên tham gia
phiên toà: Ông Nguyễn Tiến Khôi - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 8 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Điện Biên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 67/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 68/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Giàng Thị L; sinh ngày 04 tháng 6 năm 1984 tại huyện M, tỉnh Yên Bái; Nơi thường trú: Bản K, xã V, huyện N, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Làm nương; Trình độ học vấn: Không; Dân tộc: Mông; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Số Căn cước công dân: 01118400xxxx, ngày cấp 03/6/2022, nơi cấp: Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Bộ Công an. Con ông Giàng Sái L1 (đã chết) và bà Mùa Thị P; Bị cáo có chồng là Mùa Vảng N1 (đã chết) và 04 người con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Nhân thân: Bị cáo chưa bị kết án, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính. Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 23/5/2024, sau đó tạm giam từ ngày 01/6/2024 cho tới nay, có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Giàng Thị L: Bà Nguyễn Thị Lan, sinh năm 1994 là Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Điện Biên, có mặt.
- Người phiên dịch tiếng Mông: Bà Vàng Thị Dính, sinh năm 1988; địa chỉ: Bản Huổi Đáp, xã Nà Khoa, huyện N, tỉnh Điện Biên.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 18 giờ 30 phút, ngày 23/5/2024, tổ công tác Công an xã V, huyện N đang làm nhiệm vụ tại bản D, xã V, huyện N, tỉnh Điện Biên, phát hiện Giàng Thị L đang đi bộ từ hướng bản D, xã V về hướng bản K, xã V có biểu hiện nghi vấn vi phạm pháp luật nên đã yêu cầu dừng lại để kiểm tra. Sau khi nghe tổ công tác giải thích, L đã tự giác giao nộp cho tổ công tác 01 túi nilon màu trắng đang cầm trên tay trái, bên trong có 03 gói nilon đều chứa chất bột màu trắng đục, trong đó có 02 gói được gói bằng nilon màu đỏ miệng gói được buộc thắt nút và 01 gói milon màu trắng miệng gói được hơ lửa hàn kín. Tổ công tác đã mời người chứng kiến, đưa L về trụ sở Công an xã V, tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ, niêm phong vật chứng của Giàng Thị L.
Tại cơ quan điều tra Giàng Thị L khai nhận: Vào khoảng 11 giờ 30 phút ngày 23/5/2024, Giàng Thị L đi bộ từ nhà ở bản K, xã V tới khu vực biên giới Việt Nam – Lào thuộc bản D, xã V để tìm mua ma túy về sử dụng. Tại đó, L gặp 01 người đàn ông dân tộc Mông không quen biết, qua trao đổi L đã mua 01 gói Heroine được gói bằng nilon màu trắng với giá 200.000 đồng của ông ta. Sau khi mua được gói Heroine, L lấy một ít ra sử dụng bằng hình thức hít. Số Heroine còn lại L tách thành 03 phần, dùng nilon màu đỏ gói 02 phần thành 02 gói và buộc thắt nút lại, phần còn lại dùng nilon màu trắng gói lại và hơ lửa hàn kín, rồi cho cả 03 gói vào túi nilon màu trắng cầm trên tay trái đi bộ về nhà. Đến 18 giờ 30 phút, khi L đang đi bộ tới nhóm 2 bản D, xã V thì gặp tổ công tác phát hiện, bắt quả tang.
Tại Biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại đồ vật tài liệu ngày 24/5/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N xác định: Tổng khối lượng chất bột dạng nén màu trắng đục thu giữ của Giàng Thị L là 4,09 (bốn phẩy không chín) gam, gửi toàn bộ làm mẫu giám định.
Tại Kết luận giám định số 878/KL-KTHS, ngày 30/5/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Điện Biên kết luận: “Vật chứng thu giữ của Giàng Thị L có khối lượng 4,09 gam chất bột dạng nén màu trắng đục là chất ma túy: Loại Heroin (Heroine)."
Tại bản Cáo trạng số 44/CT-VKSNP ngày 15/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Điện Biên đã truy tố bị cáo Giàng Thị L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Giàng Thị L một lần nữa đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu ở trên.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N giữ quyền công tố và kiểm sát xét xử luận tội: Giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Giàng Thị L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự; đề nghị xử phạt bị cáo Giàng Thị L từ 04 (bốn) năm đến 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù. Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy vật chứng của vụ án là Heroine sau khi hoàn lại mẫu giám định, túi nilon và mảnh nilon cũ, phong bì niêm phong cũ. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền và miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật đối với bị cáo.
Người bào chữa cho bị cáo Giàng Thị L nhất trí với luận tội của vị đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật và mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, nhân thân và hoàn cảnh của bị cáo, đề nghị xử phạt bị cáo mức thấp nhất theo đề nghị của Kiểm sát viên; Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Bị cáo Giàng Thị L không có ý kiến tranh luận gì thêm. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi của bị cáo:
Tại phiên tòa, bị cáo Giàng Thị L thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như sau: Vào hồi 18 giờ 30 phút, ngày 23/5/2024, Giàng Thị L đã có hành vi tàng trữ trái phép 4,09 (bốn phẩy không chín) gam Heroine để sử dụng, được L cầm trên tay trái khi đang đi bộ tới bản D, xã V, huyện N, tỉnh Điện Biên. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra (BL 65-76), phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ (BL 01-02), kết luận giám định (BL 26) và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ. Không có chứng cứ nào chứng minh bị cáo không phạm tội.
Do đó, đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Giàng Thị L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện N đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự quy định: “1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:...
c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.
[2] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội lớn, xâm phạm đến sự độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước. Hành vi của bị cáo gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự xã hội trên địa bàn huyện N vì ma túy không chỉ gây hủy hoại sức khỏe của con người, mà còn là nguyên nhân gây ra các tội phạm khác. Bản thân bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, không bị ai xúi giục.
[3] Về nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Giàng Thị L ngoài lần phạm tội này, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Khi bị bắt giữ và tại phiên tòa bị cáo luôn thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
[4] Xét đề nghị về mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát: Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị xử phạt bị cáo Giàng Thị L từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù. Xét thấy, bị cáo phạm tội lần đầu, có hoàn cảnh gia đình khó khăn, chồng mất sớm, hiện còn có 02 con chưa thành niên, gia đình thuộc diện hộ nghèo, Hội đồng xét xử quyết định xử phạt tù bị cáo dưới mức đề nghị của Kiểm sát viên cũng đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo, đồng thời thể hiện sự khoan hồng của Nhà nước nên không chấp nhận đề nghị về mức hình phạt của Viện kiểm sát. Để đảm bảo thi hành án, Hội đồng xét xử quyết định tiếp tục tạm giam bị cáo theo khoản 1 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự thì bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy, bị cáo là người nghiện ma túy, nghề nghiệp chính là làm nông nghiệp, thu nhập không ổn định gia đình thuộc diện hộ nghèo nên không có khả năng thi hành hình phạt bổ sung là phạt tiền. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Xét đề nghị của người bào chữa: Tại phiên tòa người bào chữa cho bị cáo nhất trí với nội dung Cáo trạng cũng như luận tội của vị đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật và mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo, vì hành vi phạm tội của bị cáo là rõ ràng. Người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, nhân thân và hoàn cảnh, xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo mức đề nghị thấp nhất của vị đại diện Viện kiểm sát. Do Hội đồng xét xử không chấp nhận đề nghị về mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát nên cũng không chấp nhận đề nghị của người bào chữa. Đối với các đề nghị khác là có cơ sở Hội đồng xét xử chấp nhận.
[7] Về vật chứng của vụ án: Vật chứng là 3,56 gam Heroine hoàn lại sau khi giám định, 01 túi nilon, 03 mảnh nilon cũ phong bì niêm phong cũ, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, quyết định tịch thu tiêu hủy.
[8] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên và người bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[9] Trong vụ án Giàng Thị L khai đã mua Heroine của 01 người đàn ông dân tộc Mông không quen biết vào ngày 23/5/2024, tại khu vực biên giới Việt Nam – Lào thuộc bản D, xã V, huyện N, tỉnh Điện Biên. Do bị cáo không biết địa chỉ cụ thể của người đàn ông này ở đâu nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N không có căn cứ để điều tra, làm rõ xử lý theo quy định, Hội đồng xét xử không có cơ sở xem xét.
[10] Về án phí hình sự sơ thẩm: Tại phiên tòa bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo. Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo là dân tộc thiểu số (dân tộc Mông) sống tại xã V, huyện N, tỉnh Điện Biên là xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và gia đình bị cáo thuộc diện hộ nghèo. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
[11] Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự;
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Giàng Thị L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Giàng Thị L 03 (ba) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ 23/5/2024.
3. Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 3,56 (ba phây lăm mươi sáu) gam Heroine hoàn lại sau khi đã giám định, 01 túi nilon cũ, 03 mảnh nilon cũ, 01 phong bì niêm phong cũ.
(Vật chứng được đựng trong 02 phong bì niêm phong như biên bản giao, nhận vật chứng ngày 29/7/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N và Chi cục Thi hành án dân sự huyện N).
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Giàng Thị L.
5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo Giàng Thị L được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án 28/8/2024./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Sao |
Quyết định số 67/2024/HS-ST ngày 28/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH ĐIỆN BIÊN về hình sự - tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số quyết định: 67/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Giàng Thị L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
