Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BẮC GIANG
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 67/2024/HS-PT
Ngày: 23/05/2025

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Hải Hường
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Trung Thông
Ông Nguyễn Gia Lương
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Như Ý - Thư ký Tòa án
- Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thủy T - Kiểm sát viên.

Ngày 23/5/2025 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 19/TLPT-HS ngày 24/4/2025 đối với bị cáo Nguyễn Mạnh T1, Nguyễn Quang T2, Lương Thị L do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Mạnh T1, Nguyễn Quang T2 và kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 14/2025/HS-ST ngày 12/3/2025 của Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 97/2025/QĐXXPT-HS ngày 09 tháng 5 năm 2025.

* Bị cáo kháng cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Mạnh T1; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh năm: 2001. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Tổ dân phố Đ, phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 10/12; Họ và tên cha: Nguyễn Văn T3, sinh năm 1976; Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị T4, sinh năm: 1976; Vợ: Trần Thị Kim A, sinh năm 2000; Con: Bị cáo có 01 con, sinh năm 2023.

Tiền án: Bản án số 04/2020/HSST ngày 08/04/2020, Tòa án nhân dân huyện Thạnh An, tỉnh Cao Bằng xét xử 22 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Vận chuyển hàng cấm”, thời gian thử thách là 44 tháng, kể từ ngày tuyên án. Chấp hành xong tiền án phí ngày 20/5/2020, chấp hành xong thời gian thử thách ngày 08/12/2023;

Tiền sự: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 00068998 ngày 22/02/2024 của Công an thành phố P, tỉnh Thái Nguyên xử phạt Nguyễn Mạnh T1 6.500.000 đồng về hành vi Cố ý gây thương tích, chấp hành xong hình phạt tiền ngày 22/02/2024.

Nhân thân: Bản án số 165/2024/HS-ST ngày 16/9/2024 Tòa án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên xét xử 15 tháng tù về tội “Bắt người trái pháp luật” xảy ra ngày 01/01/2024. Hiện bị cáo chưa đi chấp hành án và chưa nộp tiền án phí.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/8/2024 đến nay. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. Có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Nguyễn Quang T2; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; sinh năm 1979; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: thôn Đ, xã H, huyện H, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Họ và tên cha: Nguyễn Đức T5, sinh năm 1953 (đã chết); Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị T6, sinh năm: 1958; Vợ: Trần Thị H, sinh năm 1982 (đã ly hôn); Con: Bị cáo có 02 con (con lớn sinh năm 2020, con nhỏ sinh năm 2002);

Tiền án:

  • Bản án số 19/HSST ngày 04/09/2002 Toà án nhân dân huyện Hiệp Hoà xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù tháng 02/2003; miễn án phí hình sự sơ thẩm ngày 16/9/2009.
  • Bản án số 17/HSST ngày 30/06/2004 Toà án nhân dân huyện Hiệp Hoà xử phạt 36 tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/8/2005, miễn án phí hình sự sơ thẩm ngày 25/11/2009.
  • Bản án số 08/HSST ngày 22/02/2006 Toà án nhân dân huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng xét xử 04 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” và 50.000 đồng tiến án phí hình sự sơ thẩm; Bản án hình sự phúc thẩm số 32/2006/HSPT ngày 27/4/2006 của Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm xử bị cáo 04 năm tù giam và buộc T2 phải chịu 50.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm. Ngày 09/6/2010, T2 chấp hành xong tiền án phí hình sự sơ thẩm, chưa chấp hành tiền án phí hình sự phúc thẩm.
  • Bản án số 35/2006/HSST ngày 06/07/2006, Toà án nhân dân huyện Hiệp Hoà xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp với Bản án số 08/HSST ngày 22/02/2006 của Toà án nhân dân huyện Đức Trọng buộc T2 phải chấp hành chung hình phạt tù là 05 năm tính từ ngày Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng bắt tạm giam ngày 22/11/2005. Ngày 03/07/2013, chấp hành xong tiền án phí là 50.000 đồng và tiền thu lời bất chính là 90.000 đồng.
  • Bản án số 342/HSST ngày 17/9/2014, Toà án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội xử 07 năm 10 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 24/3/2020, chấp hành xong tiền án phí hình sự sơ thẩm ngày 20/01/2015;
  • Bản án số 33/HSST ngày 23/02/2022, bị Toà án nhân dân huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự (tái phạm nguy hiểm) xử 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/9/2023, chấp hành xong tiền án phí ngày 05/8/2022.

Tiền sự: Không;

Nhân thân:

  • Năm 2002, bị Công an huyện H xử phạt hành chính 200.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”.
  • Năm 2012, bị Trưởng Công an huyện H ra quyết định đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/8/2024 đến nay. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. Có mặt tại phiên tòa.

* Viện kiểm sát tỉnh Bắc Giang kháng nghị đối với bị cáo:

Họ và tên: Lương Thị L; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nữ; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 01/01/2007. Nơi ĐKHKTT: Khu phố H, thị trấn S, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa; Chỗ ở: Không xác định nơi ở cố định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 8/12; Họ và tên cha: Lương Văn X, sinh năm 1987; Họ và tên mẹ: Lò Thị T7, sinh năm: 1988; Chồng, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 23/11/2024 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. Có mặt tại phiên tòa.

* Trong vụ án còn một số Người tham gia tố tụng khác nhưng không liên quan đến kháng cáo, không có kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 8 giờ 30 phút ngày 01/8/2024, Tổ công tác Công an huyện H phối hợp cùng Công an xã Đ (nay là xã S), huyện H tiến hành kiểm tra hành chính nhà nghỉ H3 ở thôn H, xã Đ (nay là xã S), huyện H phát hiện tại phòng 202 và 203 tầng 2 nhà nghỉ có khách đang thuê phòng gồm. Tại phòng 202 có Nguyễn Mạnh T1, sinh năm 2001 ở Tổ dân phố Đ, phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên và Nguyễn Quang H1, sinh năm 2004 ở xóm L, xã C, huyện P, tỉnh Thái Nguyên đang có mặt trong phòng và thu giữ: Trong thùng rác trong nhà vệ sinh 01 túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu xanh có có bám dính chất bột màu trắng nghi là ma túy (được niêm phong trong phong bì ký hiệu “Túi”); thu dưới gầm giường 01 tẩu quấn bằng tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng, mỗi đầu tẩu được quấn bằng vỏ đầu lọc thuốc là màu vàng (được niêm phong trong phong bì ký hiệu “Tẩu”); thu trên giường ngủ 01 tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng (được niêm phong trong phong bì ký hiệu “Tiền”);

Tại phòng 203 phát hiện Lương Thị H2, sinh năm 2005 và Lương Thị L, sinh ngày 01/07/2007 (em ruột H2) đều ở khu Phố H, thị trấn S, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa đang ở trong phòng và thu giữ tại sàn nhà vệ sinh 01 ống nhựa màu đỏ; 01 tờ giấy bạc tại gầm giường (được niêm phong trong phong bì ký hiệu “Go”); 01 bật lửa màu đỏ ở cuối giường và 01 chai nhựa nhãn hiệu Nubber 1 trên chai có 03 ống nhựa hồng, xanh, đỏ ở góc tường.

Tiến hành kiểm tra việc sử dụng ma túy (nước tiểu) ngày 01/8/2024: Kết quả Lương Thị H2 và Lương Thị Lệ D tích với chất ma túy Ketamine và M; Nguyễn Mạnh T1 và Nguyễn Quang H1 dương tích với chất ma túy Ketamine; Nguyễn Quang T2 dương tích với chất ma túy Ketamine, MDMA, Methamphetamine.

Ngày 01/8/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã tiến hành khám nghiệm hiện trường và tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Quang T2, sinh năm 1979 ở thôn Đ, xã H, huyện H, kết quả: Không thu giữ đồ vật tài sản gì.

Ngày 01/8/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H ra Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Mạnh T1, Nguyễn Quang T2 và Lương Thị H2 về hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Tại kết luận định giám định số 1718/KL-KTHS ngày 06/8/2024, của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:

  • Trong 01 phong bì ký hiệu "Túi" đã được niêm phong gửi giám định: Chất bột màu trắng bám dính trong 01 túi ni lon màu trắng một đầu có rãnh khoá bằng nhựa, viền màu xanh là ma tuý, loại Ketamine, không xác định được khối lượng.
  • Trong 01 phong bì ký hiệu "Tẩu" đã được niêm phong gửi giám định: Tìm thấy chất ma túy loại Ketamine trên 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng cuộn thành hình trụ được cố định bằng 02 vỏ đầu lọc thuốc lá màu vàng không xác định được khối lượng.
  • Trong 01 phong bì ký hiệu "Tiền" đã được niêm phong gửi giám định: Tìm thấy chất ma túy loại Ketamine trên 01 tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng không xác định được khối lượng.
  • Trong 01 phong bì ký hiệu "GO" đã được niêm phong gửi giám định: Tìm thấy chất ma túy loại Methamphetamine trên 01 đoạn ống nhựa màu đỏ không xác định được khối lượng. Không tìm thấy chất ma túy trên 01 mảnh giấy bạc, không xác định được khối lượng.

Quá trình điều tra Nguyễn Quang T2, Nguyễn Mạnh T1, Lương Thị H2 và Lương Thị L khai nhận: Tháng 7/2024, Lương Thị L và chị gái là Lương Thị H2 đến quán K1 thuộc Phố N, xã T, huyện S, thành phố Hà Nội làm nhân viên phục vụ. Khoảng 02 giờ 30 phút ngày 01/8/2024, sau khi H2 đi phục vụ khách hát tại quán về phòng thì gặp L, do buồn vì mới chia tay người yêu nên L rủ H2 sử dụng ma tuý “đá” cùng được H2 đồng ý. Do không có sẵn ma túy đá nên L nhắn tin qua ứng dụng Messenger cho Nguyễn Mạnh T1 nhờ T1 mua 300.000 đồng tiền ma tuý “đá” để sử dụng, T1 trả lời 300.000 đồng không bán và bảo 800.000 đồng mới bán rồi hỏi lại L là lấy 800.000 đồng không, L bảo “được”, T1 bảo chờ rồi T1 gọi điện cho Nguyễn Quang T2 hỏi mua ma tuý “đá” cho L, T2 bảo không có ma tuý “đá”, chỉ có ma tuý “ke” và cũng không mang sang khu vực huyện S. T1 nhắn tin cho L thông báo là người bán ma tuý không mang ma tuý sang huyện S mà chỉ mang đến Cầu V. Thấy vậy, L rủ T1 cùng đi sử dụng ma tuý và đề nghị sử dụng ở nhà T1 nhưng T1 không đồng ý mà bảo sang chỗ T2 rồi T1 tiếp tục gọi điện lại cho T2 bảo sang nhà T2 sử dụng ma tuý T2 không đồng ý mà bảo đến nhà nghỉ H3 thuộc thôn H, xã Đ (nay là xã S), huyện H thuê phòng đợi T2 mang ma tuý đến cùng sử dụng. Sau đó, T1 nhắn tin bảo L đến đón. Khoảng hơn 3 giờ ngày 01/8/2024, L và H2 bắt xe taxi đến khu vực Tổ dân phố Đ, phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên đón T1 rồi T1 bảo lái xe chở đến nhà nghỉ H3. Khi T1 cùng H2 và L đến nhà nghỉ H3, T1 bảo bà Trần Thị T8, sinh năm 1977 ở thôn H, xã Đ (nay là xã S), huyện H là quản lý nhà nghỉ cho thuê 02 phòng cùng tầng, bà T8 đồng ý và bố trí cho phòng 202 và 203. T1, H2, L cùng nhau vào phòng 203. Tại đây, T1 điện báo cho T2 biết là mình đang ở phòng 203 để T2 đến và khi đi T2 có mang theo một túi nilong màu trắng, có rãnh khoá bằng nhựa màu xanh, bên trong chứa ma tuý Ketamine lên phòng 203 gọi T1 vào nhà vệ sinh rồi đưa cho T1. Lúc này, L hỏi “ma tuý đá đâu?” T2 bảo “chưa có, chỉ có ma tuý ke thôi!”, T1 hỏi “có chơi ma túy ke không” thì L và H2 đều bảo là “không chơi ma tuý ke đau đầu lắm; chỉ chơi ma tuý đá thôi!”, T2 bảo là sẽ về lấy ma tuý “đá”. Sau đó, T1 và L sang phòng 202, trước khi ra khỏi phòng, T1 nhìn thấy 01 ống tẩu được cuộn bằng tờ tiền polime mệnh giá 10.000 đồng, hai đầu cố định bằng vỏ đầu lọc thuốc lá ở đầu giường, T1 cầm mang sang phòng 202, còn T2 và H2 ở lại phòng 203.

Tại phòng 202, L lên giường nằm ngủ, Tấn tự lấy tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng từ trong túi quần trước bên phải đang mặc ra rồi tự mình đổ ma tuý “ke” mà T2 đưa cho trước đó lên tờ tiền, tự sử dụng bằng cách dùng tẩu quấn bằng tờ tiền 10.000 đồng hít ma tuý “ke” để đưa ma túy vào trong cơ thể qua lỗ mũi, còn lại một ít ma tuý “ke” trên tờ tiền 5.000 đồng, T1 để xuống bàn trong phòng 202 xong, T1 nhắn tin cho Nguyễn Quang H1, sinh năm 2004 ở xóm L, xã C, huyện P, tỉnh Thái Nguyên rủ đến nhà nghỉ H3 sử dụng ma tuý, H1 đồng ý rồi một mình bắt taxi đến nhà nghỉ H3 và lên phòng 202. Tại đây, T1 đưa tờ tiền có ma tuý “ke” và tẩu quấn bằng tờ tiền 10.000 đồng cho H1 tự sử dụng hết số ma tuý T1 đưa cho bằng hình thức dùng tẩu hít ma tuý từ tờ tiền để đưa chất ma túy vào trong cơ thể qua lỗ mũi xong H1 nằm ngủ.

Tại phòng 203, T2 và H2 ở cùng nhau đến khoảng 06 giờ thì T2 một mình đi về nhà mình lấy trong tủ quần áo 01 viên ma tuý hồng phiến (ma tuý ngựa) đựng trong một ống nhựa màu hồng, hàn kín hai đầu cho vào túi quần. Đến khoảng 07 giờ 30 phút T2 tiếp tục đến nhà nghỉ H3 thì gặp T1 đang xuống cầu thang tầng 1 để đi lấy loa ở thành phố P. Khi lên phòng 202 T2 thấy H2, L, H1 đang ở trong phòng, sau đó T2 cùng H2 và L sang phòng 203 còn H1 vẫn nằm ở phòng 202. Tại phòng 203, T2 lấy ma tuý hồng phiến ra để trên giường rồi nhặt một nắp chai nhựa có đục 02 lỗ và gắn 03 ống hút màu hồng, xanh, đỏ ở trong nhà vệ sinh ra đưa cho H2, H2 cầm nắp chai này và lắp vào chai nước nhãn hiệu Number 1, tạo thành dụng cụ sử dụng ma tuý (coóng), do không có giấy bạc đốt ma tuý nên T2 bảo L điện cho T1 mua giấy bạc, L dùng điện thoại của mình gọi cho T1 thì T2 nói bảo T1 mua giấy bạc, Tấn hiểu là mua giấy bạc để sử dụng ma tuý nên đồng ý. Trên đường đến nhà nghỉ H3, T1 vào cửa hàng tạp hoá ở khu vực phường T, thành phố P mua giấy bạc loại bọc thực phẩm rồi mang lên phòng 203 để xuống giường, H2 cầm giấy bạc xé ra rồi để viên ma tuý hồng phiến lên giấy bạc dùng bật lửa có sẵn trong phòng đốt dưới giấy bạc cho ma tuý bay hơi đi qua 01 đoạn ống nhựa vào chai nhựa có nước đưa cho L ngậm vào đầu ống hút còn lại để đưa trái phép chất ma túy vào cơ thể bằng hình thức hút, xong H2 tiếp tục đốt ma túy để T2 đưa trái phép chất ma túy vào cơ thể bằng hình thức hút, cuối cùng là H2 tự đốt ma túy rồi hút khói ma tuý vào cơ thể. Đến 08 giờ 30 phút ngày 01/08/2024, Tổ công tác Công an huyện H vào kiểm tra hành chính và lập biên bản thu giữ các vật chứng liên quan.

Ngày 01/8/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H cho Lương Thị H2 và Lương Thị L, Nguyễn Quang H1 và Nguyễn Mạnh T1 thực nghiệm điều tra diễn lại hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, kết quả: Lệ ngậm một đầu ống hút gắn trên đầu bình hút để H2 cầm bật lửa hơ ma túy để trên từ giấy bạc ở một đầu ống hút còn lại để L sử dụng ma túy bằng hình thức hút xong H2 tự ngậm một đầu ống hút, tay trái cầm bật lửa tự hơ để hút ma túy vào cơ thể; T1 tự tay đổ ma túy lên tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng rồi tự mình dùng tẩu quấn bằng tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng để hít ma túy, T1 đưa tờ tiền 5.000 đồng có ma túy cho H1 rồi H1 tự mình dùng tẩu quấn bằng tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng để hít ma túy.

* Với nội dung trên Bản án hình sự sơ thẩm số 14/2025/HS-ST ngày 12/3/2025 của Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang đã quyết định:

Căn cứ điểm a, b, c khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh T1 09 (chín) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Căn cứ khoản 1 Điều 56 Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt tại 165/2024/HS-ST ngày 16/9/2024 Tòa án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên, xử 15 tháng tù giam đối với bị cáo Nguyễn Mạnh T1 về tội “Bắt người trái pháp luật”, buộc bị cáo Nguyễn Mạnh T1 phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 10 (mười) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 01/8/2024.

Căn cứ điểm a, b, c, h khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Quang T2 08 (tám) năm 10 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 01/8/2024.

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 91, Điều 101, Điều 38 Bộ luật hình sự; Khoản 1 Điều 119 Luật tư pháp người chưa thành niên xử phạt bị cáo Lương Thị L 07(bẩy) năm 06(sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 23/11/2024.

Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về hình phạt đối với bị cáo H2, giải quyết về án phí, xử lý vật chứng và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

* Sau khi Tòa án cấp sơ thẩm xét xử xong bị cáo Nguyễn Mạnh T1, Nguyễn Quang T2 kháng cáo đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm xem xét hình phạt tù của bản án sơ thẩm đối với bị cáo là nặng so với hành vi phạm tội của bị cáo, các bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

Viện trưởng Viện kiểm sát tỉnh Bắc Giang kháng nghị bản án sơ thẩm đề nghị xem xét bị cáo Lương Thị L là người dưới 18 tuổi, áp dụng Điều 119, Luật tư pháp Người chưa thành niên, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Lương Thị Lệ .

* Tại phiên toà phúc thẩm bị cáo Nguyễn Mạnh T1, Nguyễn Quang T2 xin rút đơn kháng cáo. Viện kiểm sát giữ nguyên kháng nghị. Các bị cáo đều xác định Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa xử phạt bị cáo về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” là đúng người đúng tội, không oan sai. Bị cáo L đồng ý với kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát tỉnh Bắc Giang và xin được giảm mức hình phạt tù để sớm trở về gia đình và xã hội.

* Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang thực hành quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích các tình tiết của vụ án, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã kết luận việc xử phạt của cấp sơ thẩm là đúng người đúng tội, không oan sai. Đề nghị HĐXX áp dụng điểm b, đ khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 119 Luật tư pháp người chưa thành niên, đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo Nguyễn Mạnh T1, Nguyễn Quang T2. Chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang. Sửa bản án sơ thẩm, xử phạt bị cáo Lương Thị L 04 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

* Bị cáo L không có quan điểm tranh luận gì.

* Bị cáo L nói lời sau cùng: Xin được hưởng sự khoan hồng của pháp luật để sóm trở về gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tội danh xét xử đối với bị cáo, HĐXX thấy:

Khoảng 04 giờ đến 7 giờ 30 phút ngày 01/8/2024, tại nhà nghỉ H3 thuộc thôn H, xã Đ (nay là xã S), huyện H; Nguyễn Mạnh T1 là người trực tiếp đặt phòng nghỉ 202 và 203 và mua giấy bạc để bản thân và các bị can T2, H2, L và H1 sử dụng trái phép chất ma túy trong phòng nghỉ; Nguyễn Quang T2 2 lần thực hiện hành vi cung cấp ma túy (lần 1: cung cấp ma túy Ketamine cho bị cáo T1 và H1 sử dụng tại phòng 202; lần 2: cung cấp ma túy Methamphentamine để bản thân và các bị cáo H2 và L sử dụng tại phòng 203); Lương Thị H2 là người chuẩn bị dụng cụ (cóong), trực tiếp đốt ma túy cho T2 và L sử dụng trong phòng 203; L là người khởi xướng rủ H2 và T1 cùng thực hiện hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, sử dụng điện thoại gọi cho T1 để T2 bảo T1 mua giấy bạc để L, T2 và H2 sử dụng ma túy trong phòng 203.

[2]. Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, HĐXX thấy: Hành vi phạm tội của các bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự trị an cho xã hội và địa phương. Ma tuý là hiểm họa trong đời sống cộng đồng, làm xói mòn đạo đức xã hội và là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác. Nhà nước đang quyết tâm loại trừ tội phạm liên quan đến ma túy. Các bị cáo thực hiện hành vi tại nơi dân cư sinh sống, gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây tâm lý hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân. Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ, lời khai của bị cáo và của những người tham gia tố tụng khác, xác định Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử các bị cáo phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” là có căn cứ, đúng người đúng tội không oan sai, bảo đảm tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung trong xã hội.

[3]. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Nguyễn Mạnh T1, Nguyễn Quang T2 xin rút đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. HĐXX thấy: Các bị cáo tại phiên tòa đều thừa nhận hành vi phạm tội, nhận thức việc làm của mình là sai trái, xác định án sơ thẩm xử đúng người đúng tội và không oan. Việc rút kháng cáo của các bị cáo là tự nguyện, không bị ai ép buộc gì do vậy Hội đồng xét xử cần căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 355 Bộ luật tố tụng hình sự, đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của bị cáo T1, T2.

[3]. Xét kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang. Hội đồng xét xử thấy: Hành vi của bị cáo L trong vụ án là người khởi xướng rủ H2 và T1 cùng thực hiện hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, sử dụng điện thoại gọi cho T1 để T2 bảo T1 mua giấy bạc để L, T2 và H2 sử dụng ma túy trong phòng 203. Tòa án sơ thẩm xử phạt bị cáo L mức án 7 năm 6 tháng tù là đảm bảo tuy nhiên bị cáo L thời điểm thực hiện hành vi là người dưới 18 tuổi. Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng quy định tại Điều 91, Điều 101, Điều 38 Bộ luật hình sự; khoản 1 Điều 119 Luật tư pháp người chưa thành niên khi xét xử với bị cáo L nhưng mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm Quyết định không phù hợp với quy định trên do vậy Hội đồng xét xử cần xử phạt bị cáo L mức án bằng 3/5 mức phạt tù mà điều luật của Bộ luật hình sự quy định đối với bị cáo L để đảm bảo quyền lợi cho bị cáo L.

Do vậy Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 14/2025/HS-ST ngày 12/3/2025 của Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Lương Thị L như đề nghị của đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang đã nêu tại phiên tòa.

[4]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[5]. Án phí phúc thẩm: Do bị cáo T1, T2 rút đơn kháng cáo, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang, căn cứ quy định tại điểm g khoản 2 Điều 23 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 342; Điều 347; Điều 348; điểm b, đ khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm g khoản 2 Điều 23 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của bị cáo Nguyễn Mạnh T1 và bị cáo Nguyễn Quang T2. Bản án hình sự sơ thẩm số 14/2025/HS-ST ngày 12/3/2025 của Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang có hiệu lực đối với bị cáo Nguyễn Mạnh T1 và bị cáo Nguyễn Quang T2.

2. Chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 14/2025/HS-ST ngày 12/3/2025 của Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang về hình phạt đối với bị cáo Lương Thị Lệ .

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 91, Điều 101, Điều 38 Bộ luật hình sự; khoản 1 Điều 119 Luật tư pháp người chưa thành niên, xử phạt bị cáo Lương Thị L 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 23/11/2024.

3. Tiếp tục tạm giam các bị cáo Nguyễn Mạnh T1, Nguyễn Quang T2 và Lương Thị L 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

4. Án phí phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Quang T2, Nguyễn Mạnh T1 Lương Thị L không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

5. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bắc Giang;
  • - Cổng thông tin điện tử Tòa án;
  • - CA, VKS, TA huyện Hiệp Hòa;
  • - Chi cục THADS huyện Hiệp Hòa;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu HS, HСТР.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Hoàng Thị Hải Hường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Quyết định số 67/2024/HS-PT ngày 23/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số quyết định: 67/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 23/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: sửa án
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger