|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI Số: 64/2024/QĐ-PT |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Hà Nội, ngày 31 tháng 7 năm 2024 |
QUYẾT ĐỊNH
ĐÌNH CHỈ XÉT XỬ PHÚC THẨM VỤ ÁN DÂN SỰ
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
Với Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: | Ông Phạm Văn Tuyển; |
| Các Thẩm phán: | Ông Phùng Hải Hiệp; |
| Ông Nguyễn Phan Nam. |
Sau khi xét xử sơ thẩm, Bản án dân sự sơ thẩm số 20/2023/DS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc bị kháng cáo như sau:
Ngày 10/10/2023, nguyên đơn là bà Nguyễn Thị H có đơn kháng cáo đối với bản án sơ thẩm với nội dung kháng cáo toàn bộ bản án.
XÉT THẤY:
[1] Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội triệu tập hợp lệ các bên đương sự và mở phiên tòa để xét xử vụ án theo trình tự phúc thẩm vào các ngày 07/6/2024 và 31/7/2024. Tuy nhiên, nguyên đơn có kháng cáo là bà Nguyễn Thị H đều vắng mặt tại các phiên tòa không rõ lý do, không có cơ sở xác định việc bà Nguyễn Thị H vắng mặt thuộc trường hợp vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, đồng thời bà H không có văn bản đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt hoặc ủy quyền cho người khác có mặt để tham gia tố tụng tại phiên tòa phúc thẩm. Do đó, đây là trường hợp được coi là người kháng cáo từ bỏ việc kháng cáo, Hội đồng xét xử quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án dân sự theo quy định tại khoản 3 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về án phí: Xét bà Nguyễn Thị H là người cao tuổi và có đơn xin miễn nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm, Tòa án cấp sơ thẩm không buộc bà Nguyễn Thị H phải nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm nên Hội đồng xét xử không đề cập xử lý.
Vì các lẽ trên, căn cứ vào điểm d khoản 1 Điều 289; Điều 295; khoản 3 Điều 296; khoản 5 Điều 308 và khoản 2 Điều 312 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án dân sự thụ lý số 162/2024/TLPT-DS ngày 05 tháng 3 năm 2024 về việc “Tranh chấp về thừa kế tài sản và đề nghị hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” giữa:
* Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H; địa chỉ: số nhà D, đội 4, xã S (nay là S), huyện P, thành phố Hà Nội.
* Bị đơn: Ông Nguyễn Hoàng L, địa chỉ: số nhà D, đường Đ, phường Đ, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Luật sư Nguyễn Văn H1 – Công ty L3, thuộc Đoàn luật sư tỉnh Vĩnh Phúc.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Ủy ban nhân dân thành phố V;
- Ủy ban nhân dân phường Đ, thành phố V;
- Bà Lê Thị H2, địa chỉ: số nhà D, đường Đ, phường Đ, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc;
- Bà Lê Thị N, địa chỉ: thôn N, xã Y, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc;
- Cụ Trần Thị M (đã chết)
- Cụ Doãn Văn N1 (đã chết)
- Bà Doãn Thị H3 (đã chết)
- Ông Doãn Văn M1 (đã chết); Người thừa kế quyền và nghĩa vụ của ông Doãn Văn M1: Anh Doãn Trọng D và anh Doãn Trọng A, không xác định được địa chỉ;
- Anh Doãn Văn T (đã chết); Người thừa kế quyền và nghĩa vụ của ông Doãn Văn T: Chị Nguyễn Thị K và cháu Doãn Văn T1, không xác định được địa chỉ;
- Ông Doãn Văn B (đã chết);
- + Bà Phạm Thị V và anh Doãn Tuấn A1, địa chỉ: số nhà D đường H, tổ B, phường M, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang;
- + Chị Doãn Thị Quỳnh A2, địa chỉ: số E đường H, tổ B, phường P, thành phố T;
- Bà Doãn Thị V1, địa chỉ: số nhà C, tổ G, phường P, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang;
- Bà Doãn Thị C, địa chỉ: số nhà A đường L, tổ D, phường L, thành phố P, tỉnh Hà Nam;
- Ông Doãn Đức Q (đã chết);
- + Bà Phạm Thị B1 và chị Doãn Thị H4, địa chỉ: tổ A, thị trấn V, huyện V, tỉnh Hà Giang;
- + Chị Doãn Thị H5 và anh Doãn Bảo N2, địa chỉ: tổ G, thị trấn V, huyện V, tỉnh Hà Giang;
- Ông Nguyễn Văn M2 (đã chết); Người thừa kế quyền và nghĩa vụ của ông Nguyễn Văn M2: Bà Hoàng Thị L1, địa chỉ: thôn H, xã Đ, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc;
- Ông Nguyễn Xuân H6 (đã chết)
- Bà Nguyễn Thị L2, địa chỉ: số nhà B, tổ B, khu B, phường G, thành phố V, tỉnh Phú Thọ;
- Anh Nguyễn Xuân Trường S (đã chết)
- + Chị Lê Thị Minh N3 và cháu Nguyễn Xuân T2, địa chỉ: thôn C, xã T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ;
- + Chị Nguyễn Thị H7, địa chỉ: tổ B H, quận H, thành phố Hà Nội;
- Anh Nguyễn Xuân Trường G, địa chỉ: thôn B (A3), xã Đ, huyện H, tỉnh Tuyên Quang;
- Chị Nguyễn Thị Thu H8, địa chỉ: số nhà B, tổ B, khu B, phường G, thành phố V, tỉnh Phú Thọ;
- Cụ Thiều Quang H9, địa chỉ: xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc.
Người thừa kế quyền và nghĩa vụ của cụ Trần Thị M:
Người thừa kế quyền và nghĩa vụ của ông Doãn Văn B:
Người thừa kế quyền và nghĩa vụ của ông Doãn Đức Q:
Người thừa kế quyền và nghĩa vụ của ông Nguyễn Xuân H6:
Người thừa kế quyền và nghĩa vụ của anh Nguyễn Xuân Trường S:
2. Bản án dân sự sơ thẩm số 20/2023/DS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định này.
3. Quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án có hiệu lực thi hành án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (đã ký) Phạm Văn Tuyển |
Quyết định số 64/2024/QĐ-PT ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về tranh chấp về thừa kế tài sản và đề nghị hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Số quyết định: 64/2024/QĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế tài sản và đề nghị hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 31/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngày 10/10/2023, nguyên đơn là bà Nguyễn Thị H có đơn kháng cáo đối với bản án sơ thẩm với nội dung kháng cáo toàn bộ bản án. Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội triệu tập hợp lệ các bên đương sự và mở phiên tòa để xét xử vụ án theo trình tự phúc thẩm vào các ngày 07/6/2024 và 31/7/2024. Tuy nhiên, nguyên đơn có kháng cáo là bà Nguyễn Thị H đều vắng mặt tại các phiên tòa không rõ lý do, không có cơ sở xác định việc bà Nguyễn Thị H vắng mặt thuộc trường hợp vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, đồng thời bà H không có văn bản đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt hoặc ủy quyền cho người khác có mặt để tham gia tố tụng tại phiên tòa phúc thẩm. Do đó, đây là trường hợp được coi là người kháng cáo từ bỏ việc kháng cáo, Hội đồng xét xử quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án dân sự theo quy định tại khoản 3 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự.
